Claude Monet (1840-1926) được suy tôn là cha đẻ của trường phái hội họa Ấn tượng. Trường phái này nói chung và phong cách vẽ của Monet nói riêng đã tạo ra một bước ngoặt cực kỳ lớn lao trong lịch sử mỹ thuật, từ đó mở đường cho sự ra đời của nghệ thuật hiện đại.
Monet từng có lúc nghèo rớt mồng tơi
Trong thập niên 1870, Monet thực sự có lúc lâm vào cảnh không xu dính túi. Nhưng ông vẫn cần phải mua họa cụ và nuôi vợ con.
Bán tranh là một ý hay, nhưng khổ nỗi chẳng ai thèm mua bởi vì giới quý tộc hồi đó thích tranh chủ đề tôn giáo, luân lý hoặc lịch sử, hay là chân dung gia đình, chứ tranh của Monet thì họ chẳng thiết. Chính vì thế Monet thường phải gửi thư năn nỉ vay tiền nhà buôn tranh Paul Durand-Ruel và bạn bè của ông.

Trong một lá thư gửi họa sĩ Edouard Manet, ông viết: “Mọi chuyện ngày càng tồi tệ. Từ hôm kia đến giờ, tôi chẳng còn đồng nào cả, và cũng chẳng thể vay mượn ở đâu – dù là người bán thịt hay thợ làm bánh. Anh có thể gửi cho tôi 20 frans càng sớm càng tốt được không? Số tiền đó sẽ giúp tôi vượt qua tình thế lúc này.”
Monet từng nhảy cầu để tự vẫn
Không lâu sau khi người con cả chào đời, gia đình Monet rơi vào cảnh khốn cùng. Cha của Monet không chấp nhận mối quan hệ cũng như sự nghiệp của Monet, vì thế cắt hết mọi khoản trợ cấp tài chính. Vật lộn với việc nuôi sống gia đình và cũng thất vọng trước cơ chế ngành nghệ thuật Pháp hiện hành, Monet quẫn chí nhảy xuống sông Seine tự vẫn. Đương nhiên là ông không chết.
Sau lần tự tử hụt này, Monet tiếp xúc với một nhóm các họa sĩ cùng chí hướng, và cùng với họ, Monet khởi xướng trào lưu Ấn tượng. Tuy nhiên, suốt cả cuộc đời, ông vẫn phải đau đáu với những nỗi phiền muộn này.
Tại sao Monet thích vẽ đi vẽ lại một đối tượng?
Thích thú trước ảnh hưởng của không khí đến ánh sáng vào màu sắc, Monet đã vẽ một vật thể nhiều lần dưới vào các thời điểm khác nhau trong ngày, vào các mùa và dưới các điều kiện thời tiết khác nhau. Tiêu biểu như loạt tranh Haystack (Đống cỏ khô, 1890-1891), Rouen Cathedral (Nhà thờ Rouen, 1892-1894) và đặc biệt nổi tiếng là hơn 250 bức tranh hoa súng mà Monet vẽ vào những thập niên cuối đời. Những series tranh này khác các tác phẩm giàu chất ngẫu hứng thời kỳ đầu của Monet ở chỗ chúng được sáng tác một cách tỉ mỉ và cẩn trọng.

Monet bị giới phê bình chỉ trích trong hàng thập kỷ
Mặc dù Monet sớm gặt hái thành công trên bước đường hội họa, nhưng trong 20 mươi năm đầu sự nghiệp, tài năng của ông không được Paris Salon (triển lãm nghệ thuật lớn nhất hồi ấy) công nhận, và cũng bị ngòi bút của giới phê bình nghệ thuật chỉ trích thậm tệ.
Đơn cử như hai triển lãm Salon tổ chức vào năm 1869 và 1870, các tác phẩm Monet nộp đều bị loại. Trong số các tác phẩm ấy có The Magie (Chim ác là), hiện được coi là bức tranh vẽ tuyết đẹp nhất của Monet.
Và khi các họa sĩ Ấn tượng tự tổ chức triển lãm độc lập đầu tiên vào năm 1874, giới phê bình cũng ngay lập tức tấn công. Khi thấy bức Impression: Sunrise (Ấn tượng: Mặt trời mọc), một trong những tác phẩm lừng danh nhất thế giới hiện nay, một nhà phê bình đã viết:
“Ấn tượng! Dĩ nhiên là thế rồi. Hẳn là phải có một ấn tượng đâu đó trong tranh này. Cái kiểu tự do… cái kiểu phóng túng này. Giấy dán tường hồi xưa trông còn hoàn thiện hơn nó.”
Monet từng bị đục thủy tinh thể
Năm 1912, ở tuổi 72, bác sĩ chẩn đoán Monet bị đục thủy tinh thể cả hai mắt. Trong suốt một thập kỷ, Monet phải sống chung với tình trạng suy giảm thị lực cho đến khi được phẫu thuật vào năm 1923.
Bệnh đục thủy tinh thể đã ảnh hưởng tới khả năng cảm nhận ánh sáng và màu sắc của Monet, khiến ông nhìn thế giới có phần “đỏ-vàng” hơn. Thị lực kém đi cũng khiến tranh của Monet ngày càng “trừu tượng” hơn. Điều đó thể hiện rõ khi quan sát những bức tranh hoa súng và rặng liễu ông vẽ vào thời kỳ này. So với trước đó, màu sắc chuyển từ phổ lục-lam ngả sang phía màu vàng, hồng và đỏ.

Mặc dầu bản thân Monet cực kỳ bực bội với tình trạng suy giảm thị lực này, các tác phẩm vẽ trong thời gian này lại được coi là cầu nối quan trọng liên kết giữa trường phái Ấn tượng và hội họa trừu tượng hiện đại.
Monet nhìn thấy được cả… tia cực tím
Năm 1923, Monet được phẫu thuật chữa đục thủy tinh thể ở mắt phải, còn mắt trái thì ông từ chối can thiệp. Hệ quả là sau phẫu thuật, chỉ mắt phải của ông mới thấy được màu tím và xanh lam.
Người ta cũng tin rằng chính vì phẫu thuật loại bỏ thủy tinh thể, bộ phận vốn có chức năng lọc tia cực tím, nên Monet bắt đầu nhìn thấy và vẽ lại được phổ ánh sáng vô hình với mắt người.
Người mẫu vẽ yêu thích của Monet chính là vợ ông
Monet gặp Camille Doncieux vào năm 1865 và cả hai kết hôn vào năm 1870. Từng làm người mẫu vẽ cho Renoir và Manet, Doncieux xuất hiện trong hơn 30 tác phẩm của Monet, tiêu biểu như bức Camille (The Woman in the Green Dress – Người phụ nữ mặc váy xanh, 1866).
Còn trong bức Women in the Garden (Những cô gái trong vườn, 1866-67), Doncieux làm mẫu vẽ cho cả bốn nhân vật trong tranh. Không lâu sau khi sinh đứa con thứ hai, Camille qua đời ở tuổi 32, có lẽ vì ung thư xương chậu. Monet đau lòng vẽ vợ ông lần cuối cùng trong bức Camille Monet on her deathbed (Camille Monet trên giường lúc lâm chung, 1879).

► Đọc thêm: Camille: Nàng thơ trong mắt kẻ tình si Monet
Người vợ thứ hai đã phá hủy gần hết ảnh chụp người vợ quá cố Camille
Hai vợ chồng Alice Hoschedé và Ernest Hoschedé, ngập trong nợ nần, đã chuyển tới sống cùng nhà Monet vào năm 1878. Sau khi Camille qua đời không lâu, tin đồn dấy lên về mối quan hệ giữa Monet và Alice Hoschedé. Cuối cùng họ kết hôn vào năm 1892 sau khi Ernest Hoschedé chết.
Alice ghen ghét Camille đến mức đã yêu cầu Monet hủy tất cả ảnh chụp, thư từ và kỷ vật của Camille. Chỉ còn sót lại duy nhất một tấm ảnh, đó là bức chân dung chụp năm 1871.
Lý do gì Monet tự tay phá hủy 500 bức tranh ông vẽ?
Năm 1908, một chương trình triển lãm tác phẩm của Monet ở Paris bị hoãn lại vì ông đã dùng dao đâm hỏng ít nhất 15 bức tranh vẽ hoa súng. Đây không phải là lần đầu tiên ông nổi cơn tức giận tàn phá tranh, và cũng chẳng phải là lần cuối cùng.
Sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể, ông đã quẳng đi hoặc sửa lại rất nhiều các bức tranh vẽ vào thời kỳ thị lực suy giảm. Cố thủ tướng Pháp, Georges Clémenceau, cũng là một người bạn của Monet, đã kể với phóng viên vào năm 1927 rằng: “Monet sẽ tấn công các bức tranh mỗi khi ông tức giận. Cơn giận dữ của ông bắt nguồn từ việc không hài lòng với công việc… Monet phá hủy tranh để truy cầu sự hoàn hảo.”
Monet không bao giờ dùng màu đen
Monet qua đời vì bệnh phổi vào ngày 5 tháng 12 năm 1926, hưởng thọ 86 tuổi. Tuân theo di nguyện của ông, người ta chỉ tổ chức một đám tang đơn giản. Khi Clémenceau trông thấy tấm vải liệm màu đen dùng để phủ lên cỗ áo quan, ông vội vàng thay nó bằng một tấm vải hoa, và giải thích rằng “Không, không được dùng màu đen cho Monet”. Quả thực, suốt cả đời, Monet hầu như không bao giờ dùng màu đen để vẽ tranh, ông thích pha trộn các màu tối để vẽ bóng đổ sinh động hơn.
Đan Thanh (tổng hợp)