Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà thơ, nhà văn đều chọn cho mình một vùng đất riêng để làm nơi nương tựa hoặc tìm nguồn cảm hứng. Nhà thơ Phạm Tiến Duật – “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại” đã chọn Trường Sơn làm miền “đất lạ hóa tâm hồn” mình. Bài thơ “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” của ông vừa là khúc quân ca hùng tráng, vừa là khúc tình ca lãng mạn đi sâu vào lòng người. Năm 1971, bài thơ được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành ca khúc cùng tên và trở nên phổ biến cho đến ngày nay.
Tuy nhiên, có một sự nhầm lẫn trong lời bài hát được chạy trong các băng nhạc karaoke xưa khiến cha đẻ của nó phải trăn trở: “Câu thơ ‘Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ’ của bài thơ ấy được băng hình đánh chữ là ‘Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ’. ‘Xua tan’ như thế thì còn gì là tình yêu. Băng hình không chỉ ‘xua tan’ nỗi nhớ mà còn ‘xua tan’ cả thơ ca nữa.”
Bên cạnh sự vụ nhầm lẫn “tai hại” vừa kể trên, chắc rằng có nhiều bạn chưa được biết câu chuyện đằng sau bài thơ bất hủ “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”. Bài thơ được lấy cảm hứng từ mối tình một người bạn là họa sĩ đã thành danh ở Hà Nội của Phạm Tiến Duật. Hồi ấy, chàng họa sĩ đem lòng cảm mến một cô y tá ở phía đông dãy Trường Sơn. Vậy nên khi ngồi chung cabin xe đi sang phía Tây với anh chàng, nhà thơ đã cảm nhận được nỗi nhớ khắc khoải của những tâm hồn chung nhịp đập tình yêu. Nhà thơ chia sẻ: “Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên: ‘Anh lên xe trời đổ cơn mưa / Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ’.”
Vậy là tình yêu ấy đã nối liền hai đầu Trường Sơn bằng nỗi nhớ và nỗi nhớ mong ấy đã hóa một bản trường ca bất hủ về người lính, về những năm tháng gian khó nhưng vẫn lẩn khuất nét lãng mạn của họ. Trong những ngày cuối tháng Tư lịch sử, chúng ta lại có thêm những khoảng không để tri ân những hy sinh lặng thầm của các thế hệ đi trước, những cống hiến đã đi vào thơ ca bất hủ.
Hương Liên