Nếu là một người yêu thích thi ca, ắt hẳn bạn sẽ không xa lạ gì với bốn nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu và Bạch Cư Dị. Trong đó, Lý Bạch bay bổng, Đỗ Phủ thực tế, Thôi Hiệu ngậm ngùi, Bạch Cư Dị lại xót xa. Mỗi người đều có ít nhiều tác phẩm để đời và mỗi độc giả lại chọn một người để thần tượng. Song, đối với tôi, “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị xứng đáng “xếp ngoài” bảng xếp hạng của bốn nhà thơ trên.
Vì sao vậy? Không phải vì “Tỳ bà hành” quá hay không thể xếp chung với những “Hoàng Hạc lâu”, “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” hay “Mao ốc vị thu phong sở phá ca”. Cũng không phải vì “Tỳ bà hành” quá dở. Mà vì bài thơ thể thất ngôn trường thiên kể về người đàn bà trên sông Tầm một đêm tối hơn ngàn năm về trước đã vượt khỏi ranh giới thơ ca mà trở thành một lời nguyền. Một lời nguyền ám ảnh giới tài tử giai nhân từ đó cho đến nay…
Cuộc đời của một kỳ tài
Bạch Cư Dị, tự Lạc Thiên, sinh ra ở Hạ Khê (nay là vùng Thiểm Tây, Trung Quốc). Những năm niên thiếu gia đình ông sống rất thiếu thốn. Tuy vậy, ông đã bộc lộ rất sớm năng khiếu thi ca của mình. Tuổi thơ sống trong cảnh nghèo khó sẽ ảnh hưởng rất lớn với cuộc đời sáng tác của ông sau này, khi mà Bạch Cư Dị luôn tâm niệm thơ phải viết cho những cảnh đời vất vả, gian truân. Về sau ông thi đậu, được bổ làm quan trong triều. Nhưng do mâu thuẫn gay gắt với nhiều quan lại trong triều nên phải bị đày làm Tư mã Giang Châu. Cuối con đường quan tước nhiều chông gai, ông mất với hàm Thượng thư Bộ Hình.

Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thơ ca. Đối với ông, thơ ca phải theo thực tế mà viết, phải phản ánh được các thăng trầm của thời đại, và kịch liệt mâu thuẫn với chủ trương thơ ca hình thức đang thịnh hành lúc bấy giờ.
Ông nói: “Làm văn phải vì thời thế mà làm. Làm thơ phải vì thực tại mà viết”. Thơ ông thể hiện rõ nét tinh thần nhân đạo, nhân văn. Bạch Cư Dị ra sức phê phán sự xa hoa giả dối của tầng lớp thống trị và đồng cảm với sự gian truân của dân chúng. Một đời của Bạch Cư Dị, đều có nhiều thành công cả về mặt chính trị lẫn nghệ thuật, song ông luôn sống chan hòa với mọi người, không lấy phẩm tước làm trọng, khinh sự giàu sang và quý vẻ đẹp ở nhân cách con người. Bởi lẽ đó, ông được nhân dân và giới tri thức mến mộ. Khi ông bị đày đi từ Tràng An đến Tây Giang, hơn bốn ngàn dặm mà thấy suốt dọc đường bao nhiêu học đường, Phật tự, khách điếm… đều có đề thơ của mình.
Tiếng đàn trong đêm – “Tỳ bà hành”
“Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.
Say những luống ngại khi hầu rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh.
Dời thuyền theo hỏi thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Bạch Cư Dị, lúc này đang bị đày đi giữ chức Tư mã Giang Châu, một đêm kia ông tiễn người bạn trên bến Tầm Dương. Lúc đấy vừa độ vào thu, gió thổi vào hoa lau nghe xào xạc. Cảnh buồn người cũng nao lòng. Hai người chủ, khách ủ ê, rượu không uống cạn, xung quanh im ắng không một tiếng đàn, điệu hát. Hai người muốn say mà dường không dám say vì nỗi buồn trước cảnh biệt ly. Bỗng hai người nghe thấy tiếng đàn tỳ bà vẳng từ một chiếc thuyền nhỏ neo độc giữa sông. Ngài Tư mã Giang Châu thấy tiếng tỳ bà như vỗ yên lòng mình lại, người khách nọ thấy chân không muốn bước ra đi. Hai người ngẩn ngơ, lên thuyền tháo dây mà chèo ra giữa dòng, lên tiếng hỏi “Ai là người đàn vậy?”. Trong thuyền đèn được chong lên, rượu rót ra chén, chờ người đàn sang trùng tân tiệc.
“Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn vài tiếng dạo qua,
Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.
Nghe não nuột mấy dây bứt rứt,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Chau mày, tay gảy khúc sầu,
Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Mời mọc hơn vạn lần người đàn mới chịu bước ra. Tay cầm đàn ngượng che nửa mặt hoa. Người nọ mới so dây bấm phím đàn vài tiếng thử dây, chưa nên khúc điệu mà nghe đã nên thơ. Mỗi dây nghe qua đều bứt rứt, như thể kêu than cho nỗi niềm uất ức bấy nhiêu lâu. Rồi hình như quên mất thế sự, người ấy chau mày cứ gảy hoài gảy miết, kể hết về mọi chuyện trước sau…

“Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt,
Trước “Nghê thường”, sau thoắt “Lục yêu”.
Dây to nhường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.
Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu, đau giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,
Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao.
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Các ngón tay nhạc công nọ cứ lúc bấm, lúc buông, lúc bắt, lúc thả khoan khoan dìu dặt, uyển chuyển như nước chảy mây trôi. Lúc đầu đánh khúc vũ y “Nghê thường” rồi lại sang ca khúc “Lục yêu”. Tiếng rào rào với tiếng nỉ non chen vào nhau, như trong mưa trong gió có tiếng người chuyện trò nho nhỏ. Lại có tiếng cao, tiếng thấp đan vào với nhau như ngàn muôn hạt ngọc từ trên không thả rơi xuống mâm ngọc ở dưới. Lại như tiếng chim oanh đua hót, líu lo qua lại giữa vườn hoa. Lại như tiếng nước suối tuôn ra, chảy róc rách đi thật nhanh. Nhưng rồi, nước suối đông cứng lại, người đàn ngưng tiếng nhạc. Trên thuyền bây giờ dường đã tiệt mất thanh âm, mà sao khúc nhạc bây giờ không còn ai đàn dường như còn hay hơn nữa.
Hai người tân khách còn đang ngẩn ngơ vì tiếng nhạc thần, thì chiếc bình bạc đựng nước trên mâm vỡ tung ra, nước từ trong ấy như thể nước từ trong lòng đất phút chốc phun trào. Tiếng nước nổ vừa dứt thì từ xa xa nghe tiếng trống phất cờ rung, hai bên bờ sông tựa có ngàn vạn hùng binh, nhạc ngựa ầm ầm, giáo gươm sáng quắc. Nhịp đàn đã qua những hồi mượt mà đến lúc gay cấn, đang đì đùng như đánh trận bỗng thấy người đàn đưa tay vào bốn dây đàn, kéo phựt một tiếng, như thể mảnh vải bị xé rách soạt một tiếng. Thế là ngưng đàn. Hai bên đông tây thuyền im ắng, ngó ra chỉ thấy một vầng trăng vằng vặc soi dưới đáy sông.
“Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời.
Rằng xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la.
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên.
Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,
Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.
Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn.
Vành lược bạc gãy tay nhịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.
Năm năm lần lữa vui cười,
Mải gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Sau khi đàn xong, cất phím đi, người nọ chỉnh sửa xiêm áo, kể chuyện ngày xưa. Rằng xưa tôi vốn sinh tại kinh thành, nhà ở nơi Hà Mô, học đàn từ khi mười ba tuổi, trong giáo phường lúc đó tiếng đàn đứng hàng đầu. Mỗi khi gảy đàn, khiến các tài tử khác thua nhường. Mỗi khi son phấn, khiến nàng Thu Nương phải ghen ghét. Bởi thế mà thanh niên Ngũ Lăng đua nhau biếu tặng quà để lấy lòng được tôi. Vành lược vàng, cành trâm bạc chỉ vì nhịp đánh đàn mà vỡ tan, bức quần hồng rượu đổ ra để làm hoen ố. Mỗi năm đều chỉ biết vui cười, chơi bời trăng gió không hoài đến kiếp người.
“Buồn em trẩy, lại sầu dì thác,
Lần hôm mai đổi khác hình dung.
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết đôi cùng khách thương.
Khách trọng lợi khinh thường ly cách,
Mải buôn chè, sớm tếch miền khơi.
Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Nhưng rồi em trai tử trận sa trường, dì cũng thác. Dần dà vẻ trẻ trung phai nhạc, ngoài cửa xe ngựa ngày một vắng. Khi nhan sắc đã phai tàn, tôi kết hôn cùng một vị khách thương. Người kia vì quý trọng kim tiền mà khinh thường ly cách, chỉ lo buôn bán trà ở Phù Lương, giờ chỉ còn tôi một mình với con thuyền. Quanh thuyền chỉ có trăng, nước lạnh lùng trôi qua. Đêm nay mơ thấy mình thời trẻ đang đứng khóc đến nỗi nhòe son phấn.

“Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời.
Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ nảy mầm quanh hiên.
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
Cuốc kêu sầu, vượn hót nỉ non.
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng.
Há chẳng có ca rừng địch nội,
Giọng líu lo, nhiều nỗi khó nghe.
Tiếng tỳ nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Ngài Tư Mã Giang Châu nghe đàn trong lòng đã buồn rười rượi, nay nghe kể chuyện lại rầu rĩ muôn phần. Quả là cùng một giống luân lạc chân trời, gặp gỡ nhau xem như đã quen biết. Năm qua, tôi biệt đế đô, bị biếm đến thành Tầm Dương mà đổ bệnh đến nay. Tầm Dương đất này không có nhạc, cả năm không được nghe âm bậc ngũ cung. Tôi ở chốn sông Bồn, vốn là nơi ẩm thấp, lau vàng, trúc võ nở đầy quanh nhà. Ở nơi đó, từ sáng đến đêm nghe được tiếng gì? Chỉ có tiếng chim quốc khóc đến chảy máu, tiếng vượn kêu cho bõ bi ai. Mùa xuân thì hoa nở, mùa thu thì trăng tròn, chỉ có một mình tôi thường đem rượu uống độc ẩm. Cũng có tiếng chim rừng kêu hót, nhưng giọng líu lo nhiều điểm khó nghe. Đêm nay nghe được tiếng nàng, tưởng đâu tiếng nhạc tiên gần bên tai.
“Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Tần ngần dường cảm lời ta,
Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.
Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh.”
(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)
Vậy thời hãy, đàn thêm khúc nữa, tôi vì người soạn “Tỳ bà hành”. Người đàn dường như cảm động trước lời nói đó, đứng một hồi lâu, rồi cũng lấy đàn ra gảy phím. Nhưng ôi tiếng đàn thê lương hơn biết bao phần, người ngồi tiệc giọt châu lã chã. Nào ai nước mắt rơi đẫm nhất? Rằng quan Tư mã áo xanh ướt đầm.
Lời nguyền khách tài tử – “Phong vận kỳ oan”
Từ khi “Tỳ bà hành” được sáng tác ở một đêm trăng ngàn năm trước đã trở thành một trong năm nỗi ám ảnh lớn của giới nghệ sĩ. Đó là ly biệt (bao gồm cả sinh tử), ái tình, cuồng loạn, uyển mộng bất thành và điêu tàn. “Tỳ bà hành” bao gồm nhưng không giới hạn ở trong năm trụ cột ám ảnh đó, “ái tình” vào thời tuổi trẻ của người đàn tỳ bà, “ly biệt” khi chồng ra đi mua bán, “cuồng loạn” khi đánh đàn cho Bạch Cư Dị nghe (tiếng đàn đang đánh lại ngưng, ngưng rồi lại đánh, đang nhẹ nhàng như cánh chim oanh bay lượn lại trở sang giận dữ như thế binh trúc chẻ ngói tan), “uyển mộng bất thành” khi cuộc đời không như mong đợi (ngày trẻ vui vẻ bao nhiêu, ngày về già buồn bã bấy nhiêu) nhưng nổi bật hơn hết phải nói về tính chất “điêu tàn”.
Ắt hẳn biết bao nhà thơ, biết bao nhà văn, nhà nhạc công, nhà nhạc sĩ,… đều rùng mình một cái rất bất giác khi đọc “Tỳ bà hành”, phải chăng họ thấy một tương lai trước mắt đang chờ đợi mình? Họ thấy một người nghệ sĩ cũng tài hoa, cũng nức tiếng khắp nơi dần dần trở nên tàn tạ, góa bụa tâm hồn, héo úa cả về sắc lẫn về tiếng tăm. Những câu chuyện này ngày nay chúng ta cũng đâu có lạ lùng gì nhỉ? Những người nghệ sĩ mới mấy mươi năm trước nổi như cồn như cát mà ngày nay có khi nhắc tên chỉ còn mấy người bật lên tiếng “à” rồi lại thôi. Tài năng, tiền bạc và danh tiếng có khác chi là thứ bọt nước đầu gành chỉ nổi lên trong phút chốc rồi trôi băng băng theo thời gian về miền ký ức. Nguyễn Du có phải đã đọc “Tiểu Thanh ký” để rồi cũng than lên một tiếng “Phong vận kỳ oan ngã tự cư”?

Qua đây mới thấy Bạch Cư Dị đã hoàn thành nhiệm vụ đưa tư tưởng khách tài hoa như cánh hoa tàn muộn đi rất xa cả về không gian lẫn thời gian. “Tỳ bà hành” như một phiên tòa mà người hào hoa đứng vào góc bị cáo còn trời đất ngồi vị trí phán quan, Bạch Cư Dị đóng vai trò là một tay thư ký. Bản án của phiên tòa đó đã truyền qua tay không biết bao nhiêu người, và cũng không biết bao nhiêu người cũng phải thi hành thảm án đó. Nguyễn Du đã từng khóc khi nhận ra điều này, và cũng sẽ rất nhiều rất nhiều đời kiếp nữa mà những nghệ sĩ tài hoa phải gánh mang thứ án oan kỳ lạ này. Nhưng xét cho cùng, đã có nhiều kẻ mang chiếc gông nặng này mà vẫn ngước đầu lên trời cười lớn đó mà. Có một người bạn từng vỗ vai tôi mà nói rằng: “Sở dĩ người chơi đàn bên sông Tầm Dương có thể chơi hay như thế là do ông Trời đã đày đọa người đó mà thôi. Vậy tính ra cũng bản án ấy cũng công tâm!”.
Vĩ thanh
Qua quá trình nghiên cứu “Tỳ bà hành”, tôi bắt gặp nhiều tác phẩm đời sau mang tư tưởng tương tự vốn được công chúng Việt Nam biết đến rất nhiều, dành cho mục đích tìm hiểu thêm cho các bạn, tôi xin cung cấp một số tên như:
- “Truyện Kiều” – Nguyễn Du
- “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều
- “Lục Vân Tiên” – Nguyễn Đình Chiểu
- “Độc Tiểu Thanh ký” – Nguyễn Du
Bởi thế có thể nói rằng sự ảnh hưởng của “Tỳ bà hành” là vô cùng sâu rộng, vượt ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Cuối lời, tôi cũng muốn giới thiệu cho quý độc giả bài thơ “Bến Tầm Dương” của Ngô Thế Vinh tóm lược lại nội tại tác phẩm “Tỳ bà hành” với những câu thơ rất đáng được gọi là hay.
Quốc Quyền