Kawabata Yasunari là tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên và người châu Á thứ ba đoạt Giải Nobel Văn học năm 1968, đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa văn học Nhật Bản tính từ cuộc Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng năm 1868. Ngoài những áng văn “đẹp và buồn” mang đậm tâm hồn Nhật, Kawabata còn được biết đến với số phần đầy bi kịch từ thuở thiếu thời cho đến khi tự tử bằng khí đốt trong căn phòng ở Kamakura năm 73 tuổi.
Tuổi thơ bất hạnh
Kawabata Yasunari sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hoá thuộc tầng lớp trung lưu tại thành phố Osaka. Nhà văn lừng danh xứ sở mặt trời mọc đã phải chịu rất nhiều đau đớn và mất mát khi tuổi đời còn rất nhỏ. Năm 2 tuổi, cha ông qua đời. Một năm sau, người mẹ đáng kính của ông cũng mất. Vì thấy thương cho đứa cháu nhỏ non nớt phải mồ côi cả cha lẫn mẹ, ông bà đã đưa Kawabata về sống cùng với chị gái.

Bi kịch lại một lần nữa ập đến khi Kawabata lên 7 thì bà ngoại qua đời, hai năm sau thì chị gái mất. Ông ngoại, người thân duy nhất của cậu lúc đó, mấy năm sau cũng theo bà về nơi chín suối. Tuổi thơ thiếu thốn tình thương từ cha mẹ, lại phải liên tục hứng chịu nỗi đau mất đi những người thân yêu nhất đã khiến cậu bé Kawabata 14 tuổi ốm yếu côi cút trở nên đơn độc trên cõi đời vô thường.
Kawabata Yasunari chỉ còn biết phong kín vết thương tâm hồn mình bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời. Những câu chuyện và lối hành văn sau này của ông đều ít nhiều mang một màu buồn u tối, sự nặng nề của cái chết và nỗi cô đơn.
Khoảng năm 1914, Kawabata bắt đầu viết tác phẩm đầu tay có tên “Nhật ký của người 16 tuổi” (Juurokusai no Nikki) và được xuất bản 11 năm sau đó. Cách thể hiện câu chuyện và ngôn từ trong quyển nhật ký này theo lối văn chương Nhật cổ, chứa đựng ẩn ý về một cậu bé ngày ngày mong ông mình khỏi bệnh.
Mối tình đầu bi kịch
Như biết bao chàng trai trẻ tuổi đôi mươi khác, ông có một mối tình đẹp vô cùng hạnh phúc và đẹp đẽ cùng một cô gái tên là Hatsuyo Ito. Cả hai đã hứa hôn với nhau nhưng bỗng một ngày Hatsuyo Ito lại biến mất không một lời từ biệt. Người tình ra đi để lại trong Kawabata hàng vạn câu hỏi mà ông chẳng thể nào tìm được lời giải đáp.
Mãi đến sau này, con rể của ông mới công bố rằng gia đình đã tìm thấy được những bức thư và nhật ký của Kawabata và hiểu được ngọn nguồn của câu chuyện. Vào ngày 20/11/1923, Kawabata đã lưu lại trong nhật ký về câu chuyện ở tại Saihoji, Hatsuyo Ito đã bị làm nhục bởi một thầy tu. Ito đã mang nỗi mặc cảm, tủi nhục đó và không biết cách nào để giãi bày với nhà văn nên đã chọn cách rời đi để cả hai không phải đau đớn.

Mối tình đầu thấm đẫm bi kịch cũng đã định hình phong cách văn chương của nhà văn. Từ những trăn trở, đau khổ nơi tâm can của bản thân, Kawabata đã đưa những tâm tư đó gửi vào tác phẩm “Xứ tuyết”.
“Xứ tuyết” nói về một chuyện tình yêu đơn phương không có hậu giữa Shimamura – một nam nhân thành thị có lối sống sành điệu và một nữ geisha tên Komako. Dù đều mang trong mình nỗi khắc khoải nhớ mong nhưng vì thân phận mà cả hai chẳng đến được với nhau. Cuốn tiểu thuyết khắc họa lên bản chất của tình yêu là sự thống khổ trong tâm can bằng những cuộc gặp gỡ chóng vánh, những suy nghĩ mơ hồ giống như những bi kịch mà Kawabata phải trải qua.
“Không bao giờ tôi trút bỏ được ảnh mình là một người lãng du ưu sầu. Tôi cứ luôn mơ mộng tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong giấc mơ mà lại tỉnh thức, trăn trở u hoài giữa mộng mơ…”
Trong tất cả các tác phẩm của mình, nhà văn đều vẽ nên những câu truyện theo lối trữ tình giản dị. Kawabata được trao tặng giải thưởng Nobel Văn học năm 1968. Trong diễn văn đọc tại lễ trao giải Nobel Văn học 1968, Tiến sĩ Anders Usterling xác nhận: “Yasunari Kawabata là người tôn vinh vẻ đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người. Với tư cách nhà văn, ông đã truyền đạt một nhận thức văn hóa có thẩm mỹ và đạo đức cao, bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông – Tây theo cách của ông.”
Bốn năm sau, ngày 16/4/1972, trong một căn nhà nhỏ ven bờ biển Zushi, Kanagawa – nhà văn mở khí gas và lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng. Ông không để lại bất cứ chúc thư hay lời trăng trối nào. Nhiều người cho rằng, ông tự sát vì cảm thấy những tác phẩm sau này của mình không còn hay như những tác phẩm trước đó. Kawabata quyên sinh vì muốn được nhớ đến với những lúc vinh quang nhất trong sự nghiệp của mình.

Là một nhà văn lừng lẫy tiếng tăm tại Nhật Bản với những tác phẩm để đời, những tưởng Kawabata đã sống một cuộc đời êm ấm. Thế nhưng sự thật bẽ bàng đằng sau lại khiến không ít người phải chạnh lòng cảm thương cho số phận của ngòi bút tài hoa này.
Khánh Vy