Salvador Dalí: Nghệ sĩ của những giấc mơ siêu thực

Salvador Dalí, người đàn ông có bộ ria mép vểnh ngược đầy hài hước, đã dành trọn đời mình khai phá vẻ đẹp của những giấc mơ siêu thực.

Không phải là người sáng lập nên trường phái Siêu thực, nhưng tên tuổi của Salvador Dalí (11/05/1904 – 23/01/1989) luôn đi liền với trường phái này. Người đàn ông có bộ ria mép vểnh ngược đầy hài hước này đã dành trọn đời mình khai phá vẻ đẹp của những giấc mơ siêu thực.

Họa sĩ Salvador Dalí (1904-1989) | Nguồn: Artwork Archive

Bước chân vào lãnh địa những giấc mơ

Salvador Dalí chào đời năm 1904, trong một gia đình trung lưu khá giả tại thành phố nhỏ Figueres, gần Barcelona, Tây Ban Nha. Hồi nhỏ, Dalí bộc lộ tính cách kích động, tùy tiện và thường giận dữ bộc phát với bạn bè và người thân. 

May mắn cho Dalí là gia đình hết sức ủng hộ ông theo đuổi nghệ thuật ngay từ thuở thiếu thời. Đến năm 1922, Dalí nhập học một trường nghệ thuật danh giá ở Madrid. Tại đây, ông được tiếp xúc với nhiều phong cách và trường phái nghệ thuật khác nhau. 

Một dấu mốc cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp của Dalí là vào 1926, ông đặt chân tới thành phố Paris, trung tâm của nền nghệ thuật châu Âu. Tại đây, ông được giới thiệu với họa sĩ lập thể Pablo Picasso, với “cha đẻ trường phái Siêu thực” André Breton và với nhóm họa sĩ Siêu thực. Thích thú với những chủ trương mới lạ của trường phái Siêu thực, Salvador Dalí bắt tay vào sáng tác tác phẩm siêu thực đầu tiên của mình – “Apparatus and Hand” (Máy móc và bàn tay, 1927). Chính giữa bức tranh là một cỗ máy hình người, dựng từ những khối hình học. Từ trên cái đầu hình kim tự tháp kéo giãn, mọc ra một bàn tay đỏ chót ghê sợ. Xung quanh là những hình thù đầy ảo mộng: hình người khỏa thân, con ngựa, đàn chim… Dù ý nghĩa là gì thì rõ ràng Dalí đã lấy cảm hứng cho tác phẩm này từ những hang hốc sâu thẳm của tiềm thức.

“Apparatus and Hand” (Máy móc và bàn tay), Salvador Dalí, 1927, sơn dầu trên bảng gỗ | Nguồn: Wikimedia

Năm 1929, ấn tượng với những tác phẩm huyền hoặc của Salvador Dalí, nhóm họa sĩ Siêu thực của André Breton quyết định kết nạp chàng trai trẻ người Tây Ban Nha này. Mười năm tiếp theo, dưới vòm trời chủ nghĩa Siêu thực, Salvador Dalí sẽ ươm mầm và gặt hái những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của mình.

Thế giới qua con mắt của người hoang tưởng

Dalí cực kỳ hâm mộ Signmund Freud và ứng dụng lý thuyết của nhà phân tâm học vĩ đại này vào sáng tác. Theo Freud, giấc mơ chính là con đường dẫn tới vùng tâm trí vô thức. Ông tin rằng thông qua phân tích giấc mơ, chúng ta có thể phần nào thấu hiểu được động cơ và mong muốn của con người.

Cùng với đó, Dalí cũng nhất trí với thuyết tự động chủ nghĩa (automatism) của André Breton, cho rằng người họa sĩ nên trấn áp hành động kiểm soát của ý thức, và nên cho phép miền vô thức cùng trực giáp trỗi dậy.

Salvador Dalí (hàng đầu, ngồi giữa) và nhóm họa sĩ Siêu thực, ảnh chụp khoảng năm 1933 tại Paris. | Nguồn: Anna Riwkin-Brick (tác giả)

Vào đầu thập niên 1930, từ những cơ sở trên, Dalí đã phát triển nên “Phương pháp Hoang tưởng-Phân tích” (Paranoic-Critical Method). Người nghệ sĩ chạm tới vùng tiềm thức thông qua suy nghĩ phi lý một cách hệ thống và trạng thái hoang tưởng tự cảm. Sau khi bước ra khỏi trạng thái này, nghệ sĩ sẽ vẽ lại giấc mơ mà anh ta vừa chứng kiến, vì lẽ đó trong tranh xuất hiện rất nhiều sự vật không liên quan gì đến nhau. Nếu bạn thấy tranh của các họa sĩ siêu thực như Dalí đầy những thứ khó hiểu, thì đúng như thế, chẳng phải bạn cũng thường bắt gặp sự phi lý ấy trong mơ sao?

Chúng ta có thể thấy rõ sự kỳ quái này trong tác phẩm lừng danh nhất của Salvador Dalí: “The Persistence of Memory” (Sự dai dẳng của ký ức, 1931). Từ một lần quan sát miếng pho mát tan chảy dưới nắng, Dalí nảy ra ý định vẽ những chiếc đồng hồ mềm oặt, vắt lên được cành cây, qua đó ám chỉ dòng chảy của thời gian và ký ức. Đàn kiến bu vào chiếc đồng hồ màu cam cùng con ruồi đậu gợi liên tưởng tới sự tan rã và phân hủy.

“The Persistence of Memory” (Sự dai dẳng của ký ức), Salvador Dalí, 1931, sơn dầu trên vải | Nguồn: Singulart

Siêu thực không chỉ trong tranh

Tuy không phải là người sáng lập ra trường phái Siêu thực, Salvador Dalí đã có những đóng góp quan trọng để mở rộng phạm vi sáng tạo của trường phái này. 

Năm 1928, ông hợp tác cùng nhà làm phim Luis Buñuel cho ra đời bộ phim “Un Chien Andalou” (An Andalusian Dog). Bộ phim câm dài 21 phút này nhanh chóng thành công vang dội và trở thành cột mốc quan trọng trong lịch sử điện ảnh. Phim gây ấn tượng mạnh nhờ những hình ảnh kỳ quái, phi lô-gic, như bắt gặp trong giấc mơ. Bộ phim đem lại tiếng tăm cho Dalí và khiến nhóm nghệ sĩ Siêu thực quyết định cử đại diện đến gặp và kết nạp ông làm thành viên.

Phân cảnh nổi tiếng trong phim “Un Chien Andalou”, người đàn ông cầm dao cắt thẳng vào mắt cô gái | Nguồn: Little White Lies

Trong thời gian là hội viên của nhóm nghệ sĩ Siêu thực, Dalí được nhà thơ André Breton, người sáng lập và nhà lý luận của nhóm, giao cho nhiệm vụ sáng tạo ra mô-típ mới nhằm đa dạng hóa trường phái này. 

Khái niệm “đồ vật siêu thực” (surrealist object) là chính là thành quả của nhiệm vụ này. Về cơ bản, đề xuất của Dalí thể hiện một cách nhìn nhận tâm sinh dục xoay quanh vật được tìm thấy (found-object) hoặc vật được tạo tác sẵn (readymade). Các đồ vật siêu thực tập trung gợi lên những suy nghĩ, tình cảm bị kìm nén hoặc khát khao một cách vô thức. 

“Lobster Telephone” (Điện thoại tôm hùm, 1936) là điển hình của thể loại này. Với Dalí, hai sự vật không liên quan này mang hàm nghĩa nhục dục mạnh mẽ. Ông vốn hay thể hiện sự liên tưởng giữa đồ ăn và nhục dục. Trong “Lobster Telephone”, đuôi tôm, nơi có bộ phận sinh dục, chọc thẳng vào đầu nói của điện thoại, cũng nhằm hàm ý điều đó.

“Lobster Telephone” (Điện thoại tôm hùm), Salvador Dalí, 1936, đồ vật Siêu thực | Nguồn: Tate Modern

“Bản thân tôi chính là trường phái Siêu thực”

Quan hệ giữa Dalí và nhóm họa sĩ Siêu thực bắt đầu rạn nứt nghiêm trọng vào năm 1934. Nguyên do là Dalí có thái độ thân thiện với tướng phát xít Francisco Franco và cả Adolf Hitler. Cuối cùng, André Breton quyết định trục xuất Dalí khỏi nhóm vào năm 1939. Phản ứng trước sự việc này, Dalí đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Bản thân tôi chính là trường phái Siêu thực” (I myself am Surrealism).

Không còn tham gia cộng đồng họa sĩ Siêu thực, Dalí vẫn kiên định theo đuổi trường phái này suốt đời. Mặc dù các tác phẩm sau này của ông đều đạt mức độ tinh xảo, nhưng chúng không nhận được đánh giá cao như các tranh thời kỳ đầu nữa.

Trong giai đoạn 1950-1970, bên cạnh các chủ đề quen thuộc như nhục dục, ký ức thơ ấu hay người vợ của ông, Salvador Dalí dành sự quan tâm lớn cho đề tài tôn giáo và siêu nhiên. Tác phẩm “Christ of St John on the Cross” (Chúa Ki-tô của Thánh John trên Thập tự giá, 1951) là một ví dụ tiêu biểu.

“Christ of St John on the Cross” (Chúa Ki-tô của Thánh John trên Thập tự giá), Salvador Dalí, 1951, sơn dầu trên vải | Nguồn: Arthur

Dù vẫn mang màu sắc kỳ ảo, người xem dễ dàng nhận thấy yếu tố siêu thực đã khác rất nhiều so với các tác phẩm thời kỳ đầu của ông. Hình ảnh chúa Ki-tô được chau chuốt theo phong cách hội họa cổ điển.

Từ năm 1980, sức khỏe Dalí suy giảm do bệnh Parkinson và suy nhược cơ thể. Tình trạng ngày càng tệ hơn khi vợ ông qua đời hai năm sau đó. Vào năm 1989, tại thành phố quê nhà Figueres, Salvador Dalí đột tử do tim ngừng hoạt động, hưởng thọ 84 tuổi. Dalí tâm niệm: “Trường phái siêu thực mang tính tàn phá, nhưng nó chỉ phá hủy những xiềng xích kìm hãm khả năng nhận thức”. Nhìn lại cuộc đời Dalí, quả thực không lúc nào ông tiếc công tiếc sức đả phá những gông xiềng đó.

Đan Thanh

✦ Tài liệu tham khảo:
[1] A. G. Dixon, Art: The Definitive Visual Guide. Dorling Kindersley Ltd
[2] Who Was Salvador Dalí and Why Was He So Important? | ARTnews
[3] Salvador Dalí Artist Overview and Analysis | The Art Story
[4] The Editors of Encyclopaedia, Salvador Dalí | Britannica