Ranh giới giữa sự hủ lậu và văn minh trong tiểu thuyết “Làm đĩ” (Vũ Trọng Phụng)

Thế nào là “hủ lậu” mà thế nào mới là “văn minh” trong một xã hội miền Bắc Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, nhộn nhạo giao thoa giữa cái mới và cái cũ?

Vũ Trọng Phụng chắc chắn đã chẳng câu nệ một ai khi đặt cho tác phẩm của mình một cái tên đầy táo bạo – “Làm đĩ”, vào những năm 1930 của thế kỷ XX. Tựa đề ngắn gọn, bộc trực này cùng ngòi bút châm biếm đanh thép của ông như một ngọn cờ giương cao thách thức thời cuộc, thẳng thắn vạch trần và lên án sự giao thoa văn hóa kệch cỡm, sa đà vào chủ nghĩa cá nhân của cả một dân tộc khi không có một lằn ranh mạch lạc để ngăn cái này xâm nhập vào cái kia, cái này hòa tan vào cái kia.

Đứng trước mảnh đời trầm luân của nhân vật Huyền, một cô gái thành thị luôn phải giằng xé bản thân giữa hai luồng tư tưởng truyền thống – hiện đại của buổi giao thời, người đọc có thể thấy dụng ý sâu sắc về cải cách văn hóa của tác giả khi để em bị cuốn theo vòng xoáy của những thói “văn minh” lệch lạc từ ngày còn thơ dại và xuyên suốt tuổi trưởng thành.

Đến cuối cùng, việc Huyền sớm bị tách rời khỏi phần “gốc” – ấy là bản sắc văn hóa, tự tôn dân tộc, là danh tính của mỗi cá nhân – đã biến em thành một cái cây nhỏ trơ trọi bị nhổ bật khỏi nền móng, đẩy em mỗi ngày một gần hơn với cái sai trái, xấu xa và hoàn toàn đánh mất chính mình trong một xã hội u mê, bạc nhược.

Một phụ nữ hành nghề mại dâm ở Sài Gòn năm 1910 | Nguồn: AGB Photo Library

Số phận “ba chìm, bảy nổi” của nhân vật chính và tác động tiêu cực từ môi trường xung quanh

Tác giả chia cuộc đời sóng gió gập ghềnh của Huyền thành bốn chương, mỗi chương thuật lại chi tiết những hồi ức không mấy đẹp đẽ đại diện cho quá trình em dậy thì – ra đời – lấy chồng và rồi trụy lạc.

Nhân vật Huyền của Vũ Trọng Phụng có xuất phát điểm ở tầng lớp trung lưu, khá hơn nhiều người trong xã hội Đông Dương bấy giờ, thậm chí có thể nói là con nhà danh giá. Hà cớ gì một cô gái xinh đẹp với tương lai xán lạn lại quyết định dính vào “cái đời nhơ bẩn này” là một câu hỏi khiến hai người bạn học cũ bàng hoàng và không khỏi thắc mắc, mong muốn đào sâu vào nguồn cơn cớ sự từ quá khứ của em.

Dậy thì và ra đời

Bắt đầu từ thời mới lớn của Huyền, tác giả đặc biệt mô tả những thói hư tật xấu mới nổi, được du nhập từ trời Âu như rạp chớp bóng, y phục phụ nữ hở hang, nhảy đầm,… nhằm nêu bật bối cảnh không gian và thời gian phức tạp mà em phải trải qua ở giai đoạn dậy thì – độ tuổi rất dễ bị tác động sai lệch nếu không được uốn nắn, giáo dục đúng cách.

“Không biết rằng cứ ỳ ra cũng đã đủ đi đến chỗ diệt chủng, cả một dân tộc vô đạo, vô học không có lý tưởng nào mà thờ, như một bọn người điêu, nhắm mắt lại để hăng hái làm cho xã hội thêm trụy lạc và liệt nhược. […] Ngay đến những người biết nghĩ cũng bị huyễn hoặc, cũng bài xích thuyết trung dung, cũng hô: đổi mới hoàn toàn.”

Mà hỡi ôi, khi cả một xã hội đã đồng lòng buông thả cho phần “con” trong mình được cái dòng chảy của sự “văn minh, duy tân, đổi mới” ve vuốt đến mù quáng, thì sự tỉnh táo yếu ớt trong tâm lý Huyền bằng cách nào mang ra chống chọi? Huyền bị cuốn theo một chặng marathon một đi không trở lại, không biết từ bao giờ mình đã đứng ở vạch xuất phát, cũng chẳng thấy đích đến cuối cùng.

“Và con Huyền cứ công nhiên và tự nhiên theo đuổi những cảm giác ấy, vì đó là mỹ thuật, vì chung quanh Huyền ai cũng thế cả. Đó là cái dâm có quyền hành, cái dâm được công nhận, được khuyến khích, cái dâm của những người văn minh!”

Chân dung một người đẹp áo dài ở Hà Nội năm 1915 | Nguồn: Léon Busy / Musée Albert Kahn

Biết bao nhiêu con người, dù tỉnh hay mê, đều ly dị hết những quy tắc, lễ nghĩa phong kiến giáo điều của xã hội Đông Dương để chạy theo một xã hội mới đầy quyến rũ, phóng túng và làm suy đồi đạo đức. Nếu nhận định văn hóa – xã hội là một mặt trận đấu tranh, thì cách mạng văn hóa là thứ vũ khí vô hình có sức công phá khủng khiếp, len lỏi qua từng kẽ hở trong đời sống hàng ngày và chực chờ để đồng hóa một dân tộc yếu thế hơn.

Bên cạnh quyền tự quyết của Huyền, chính những người thân cận và môi trường xung quanh cũng đóng vai trò quan trọng góp phần xô đẩy em đến bước đường tuyệt vọng. Mặc dù mỗi người trưởng thành cần phải có trách nhiệm với cuộc sống cá nhân, khó có thể nói rằng trong câu chuyện này, Huyền là nhân vật duy nhất bị Tây hóa lệch lạc và tự chuốc lấy đọa đày.

Minh chứng rõ ràng nhất là sự cẩu thả, vô tâm của bậc làm cha mẹ, của người lớn trong gia đình khi đáng nhẽ phải là tấm gương sáng cho con cháu noi theo, nhưng lại trở thành căn nguyên cho rất nhiều những bất hạnh, khổ đau của Huyền sau này.

Trong khi thầy u ra sức công kích lựa chọn trang phục “hư thân, mất nết” của Huyền thì người cô, dì theo trường phái tân thời của em đã nhanh nhẹn phản đối, “Bây giờ thiên hạ ai cũng thế cả, nếu cấm đoán thì cô Huyền không hợp thời”. Mặc cho việc đánh mất lòng tin yêu của số đông họ hàng kịch liệt lên án em, Huyền yên trí họ đã hủ bại mất rồi và không đếm xỉa tới những lời khuyên bảo ấy nữa.

Không chỉ dừng lại ở sự mâu thuẫn trong quá trình nuôi dạy con cái, bi kịch của gia đình Huyền được đẩy lên cao trào khi người cha tuyên bố đã làm một ả đào có bầu và oanh liệt rước vợ bé về chung sống. Từ một người “xưa kia đạo đức bao nhiêu, bây giờ đâm ra chơi bời bấy nhiêu” và nghiễm nhiên khoanh tay chứng kiến gia đình sụp đổ, em mất lòng tôn kính với thầy em vì sự “phá giới” được tô điểm bởi phong trào vật chất không chừa một ai, tha hóa cả một xã hội.

Người tỉnh táo duy nhất muốn cứu Huyền khỏi con đường sa ngã có lẽ là Nguyễn Lưu, người họ hàng xa đến nhà em ở nhờ để bầu bạn học tập với anh ruột. Cái sai của anh là trót si mê người có cùng huyết thống, nhưng Lưu thực lòng quan tâm và trăn trở về đức hạnh của Huyền “chẳng kém một người chồng cả ghen, săn sóc hơn những người có nghĩa vụ phải săn sóc đến em nữa”. Anh tìm cách can thiệp vào đời nữ sinh phơi phới của em bằng rất nhiều hình thức, thiết tha can ngăn Huyền bị cám dỗ và sa lầy bởi hai chữ “tân thời”.

Đáng tiếc thay, số phận đã không an bài cho Huyền một cuộc sống êm đẹp như em tưởng tượng. Chuyện trăm năm của Huyền vẫn phải tuân theo quan niệm “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” của người châu Á nói chung, phản ánh sự Tây hóa nửa mùa khi người ta tung hô nền văn minh ngoại quốc nhưng không thể rũ bỏ hoàn toàn những tôn ti trật tự phong kiến rất “hủ lậu”.

Lấy chồng và trụy lạc

Cuộc hôn nhân sắp đặt với một viên tham tá đã dẫn đến cái kết đầy đau đớn cho mối tình mộng mơ, lén lút của em với Nguyễn Lưu, cũng chính là động cơ khiến Huyền toan tính rằng một ngày nào đó mình phải tìm cách trả thù bố mẹ, phá hoại mối quan hệ này. Cái chết trẻ của nhân vật này dường như chứa đựng ngụ ý của Vũ Trọng Phụng về những cá nhân, bộ phận “cá biệt” dám chống lại dòng chảy của xã hội đương thời rồi sẽ phải nhận những kết cục không có hậu.

Điều oái oăm giúp lật ngược thế cờ và thay đổi vị thế của Huyền (một người vợ mới cưới nhưng đã “mất tân”) đối với tân lang là việc anh ta thú nhận đã mắc bệnh giang mai – căn bệnh phong tình đáng ghê tởm nhưng tạo cơ hội cho em ém đi sự thật động trời về mình, mặc nhiên hưởng thụ lòng tin yêu của cậu tham Kim.

Thêm vào đó, chồng em còn vô tình “nối giáo cho giặc” qua việc phê bình Huyền chưa đủ tận tình, chu đáo trong ứng xử với người bạn lâu năm của anh, “Tân thời mà thế thì nhục, thì phí cả hai tiếng tân thời! Tân nữ lưu mà không biết tiếp một người bạn chồng cho lịch sự […]”. Chính tư duy “đổi mới” rởm đời và thói sĩ diện không phải lối của Kim, “thí dụ như có thể coi khiêu vũ chỉ là cái lịch sự, những mốt y phục luôn luôn thay đổi chỉ là những dấu hiệu tiến bộ…”, đã phản tác dụng và gây ra tai ương cho gia đình nhỏ của anh: một người vợ ngang nhiên bồ bịch và một người chồng mọc sừng.

Trang phục Âu hóa của nam giới những năm 1940-50 | Nguồn: Style-Republik

Huyền tự cho mình cái quyền vụng trộm với nhân ngãi là Tân, hình mẫu điển hình của tầng lớp tư sản được mô tả “tuy là người An Nam nhưng dáng điệu y như của một dân Ba Lê”, là con nhà giàu, từng sang Pháp du học và có một đời vợ. Với nền tảng gia đình, học vấn và kinh nghiệm tình trường dày dặn, Tân tiếp thu sâu sắc tư duy và phong cách sống của phương Tây, dẫn đến việc có gốc gác Việt Nam nhưng tâm tư nhuốm màu lai tạp văn hóa.

Gã dùng cái mác “tân thời, văn minh” để ca ngợi, tiêm nhiễm cho Huyền những lý tưởng điêu trá về thứ gọi là ái tình tiến bộ, cho rằng cái đích cuối cùng của tình yêu không phải là hôn nhân, thẳng thừng phủ nhận những giá trị lâu năm của phái cổ và bóp méo cái sai thành đúng. Sự vụng trộm êm xuôi và vui vẻ tới mức Huyền cũng dần yên trí và sinh ra ảo vọng, “Em thấy sự lừa chồng là không có tội gì cả, chỉ lãng mạn và có vẻ tiểu thuyết, vẻ màn ảnh một chút mà thôi.”

Đến khi Kim ý thức được cái dại dột của mình, sự trừng phạt thể chất lẫn tinh thần tàn nhẫn làm Huyền khiếp sợ và tỉnh ngộ nhưng dường như đã muộn để cứu vãn cả cuộc hôn nhân và bản thân em. Trong khi đó, kẻ phong lưu và ưa hưởng lạc như Tân lại dễ dàng rũ bỏ mối quan hệ bất chính với Huyền, để lại em là người đau khổ và tủi nhục, không biết bấu víu vào đâu.

Hành trình đi tìm Tân với mối thù hận tột cùng là giọt nước tràn ly, đặt dấu chấm hết cho quãng đời chao đảo và giằng xé giữa sự tân tiến và lạc hậu của em. Huyền chính thức bước vào cái nghề bán thân mà ngoài mặt người ta tung hô bằng đủ loại mỹ từ thơ mộng lắm, nhưng về bản chất, gái giang hồ sẽ mãi nằm ở dưới đáy xã hội và bị những thành phần khác khinh thường, kể cả khi họ cần đến chúng em.

“Đến lúc biết mình lầm, thì đã… làm đĩ!”

Nhìn chung, tất cả những sự kiện, ngã rẽ lớn nhỏ trong đời đều có tác động ghê gớm lên tam quan của Huyền, đặc biệt khi bản thân em cũng gặp khó khăn trong việc định hình đúng – sai giữa đầy rẫy những ý kiến trái chiều và thiếu kiên định về thế nào là “hủ lậu” mà thế nào mới là “văn minh”.

Làm đĩ là cái quả của Huyền mà một trong những cái nhân lớn nhất là sự thiếu giáo dục và uốn nắn về mặt nhận thức văn hóa, tiếp thu có chọn lọc từ khi còn nhỏ. Trong đó có những yếu tố tưởng chừng nhỏ nhặt như chọn cái quần, cái áo hay cách ứng xử với người khác giới, đã sớm nhen nhóm hình thành trong bộ óc non trẻ của em một tư duy và lối sống sai lệch.

Bài học sâu cay về bản sắc văn hóa và con người

Cách Vũ Trọng Phụng sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “em” để dẫn dắt tác phẩm làm tăng tính cá nhân của câu chuyện và gắn liền bi kịch ấy với một nhân vật nhất định. Nhưng đồng thời, nó cũng khơi lên trăn trở của người đọc về một xã hội Việt Nam thời đó có biết bao nhiêu cô gái, chàng trai đã lỡ bước trở nên “đĩ quá, hư quá, không thương được” như em Huyền?

Không phải là Nguyễn Thị Huyền hay một cái tên đầy đủ nào khác, tác giả gọi “Huyền” nhẹ bẫng, ngẫu nhiên bởi nếu có là Nga, Hằng hay Tú thì số phận của họ cũng hoàn toàn có thể dẫn đến kết cục như nhân vật này.

Phố Khâm Thiên xưa, con phố Cầm Ca, của những nhà hát Cô Đào | Nguồn: Quán Cầm

Là một văn sĩ tả chân kiên định với lý tưởng riêng, ông thể hiện sự phẫn uất cá nhân thay cho một giai đoạn lịch sử “đã hư, đã hỏng” với giọng điệu đầy trào phúng, mỉa mai nhưng không kém phần thương xót, ở cái cốt là một nỗ lực tha thiết cảnh tỉnh đồng bào. Ông chỉ trích làn sóng du nhập văn hóa châu Âu khốn nạn, nửa mùa giai đoạn Pháp thuộc đã làm tha hóa những cá nhân, bộ phận mải mê chạy theo trào lưu và bài xích cái cũ, mà quên rằng chính những khuôn phép, lề thói ấy mới là thứ từng đưa một dân tộc Đông phương đi vào quy củ và tôn vinh những giá trị đạo đức thuần túy.

Vũ Trọng Phụng thực sự là một nhà văn tân tiến vượt thời đại khi dám khảng khái bày tỏ quan điểm của mình về tình hình xã hội, thông qua một thiên tiểu thuyết được sáng tác và xuất bản từ gần 90 năm trước, nhằm phê phán những bất cập, thiếu sót trầm trọng trong công tác phổ cập và gìn giữ văn hóa nước nhà. “Làm đĩ” nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết phải giáo dục văn hóa đúng cách, nhất là với lớp trẻ, để giữ được cái tâm vững và một bản sắc dân tộc không dễ dàng lay chuyển bởi yếu tố ngoại cảnh.

Trên thực tế, bản thân mỗi người ai cũng sẽ vô tình có những khoảnh khắc lưỡng lự và bối rối như Huyền khi đứng trước những trào lưu Tây phương mới mẻ. Mặc dù vậy, cần đề cao và nằm lòng tư tưởng “hòa nhập nhưng không hòa tan” để làm sao trở nên hợp thời, cập nhật nhưng không đánh mất cái gốc rễ văn hóa của dân tộc Việt Nam như nhà văn Vũ Trọng Phụng đã hằng đau đáu.

Trang Nhung

✦ Tài liệu tham khảo:
[1] Tiểu thuyết “Làm đĩ” (1936) | Vũ Trọng Phụng
[2] Tình dục, giáo dục giới tính và mại dâm qua giọng văn thẳng-mà-thật của Vũ Trọng Phụng | Sàigòneer