Một số vấn đề về văn học Phục hưng Mỹ
Năm 1941, trong công trình American Renaissance: Art and Expression in the Age of Emerson and Whitman, học giả F.O. Matthiessen lần đầu tiên nhắc đến cụm từ Phục hưng Mỹ (American Renaissance) để chỉ giai đoạn văn học sôi nổi giữa thế kỷ XIX. Matthiessen cho rằng giai đoạn giữa thế kỷ XIX là một cuộc tái sinh, “không phải là sự tái sinh của những giá trị đã tồn tại trước đó ở Mỹ, mà là cách nước Mỹ tạo ra một thời kỳ Phục hưng, bằng cách đạt đến sự trưởng thành đầu tiên và khẳng định di sản chính đáng của mình trong toàn bộ lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa” (Matthiessen, 1941, tr.vii). Quan điểm này có sự ảnh hưởng bởi André Malraux khi ông cho rằng mỗi nền văn minh đều giống như thời kỳ Phục hưng khi tạo nên di sản riêng của mình từ tất cả những gì trong quá khứ giúp nó vượt qua chính mình (Matthiessen, 1941). Quan điểm của Matthiessen không xuất phát từ tầm nhìn Phục hưng như một hiện tượng toàn cầu như Nikolai Konrad (trong công trình Zapad i Vostok) hay Jerry Brotton (trong The Renaissance: A Very Short Introduction), cũng không có sự liên hệ trực tiếp đến Phục hưng châu Âu. Ông chủ yếu mượn khái niệm Phục hưng như cách định danh nhấn mạnh sự trỗi dậy đột ngột của văn học – nghệ thuật mang tính bản địa của Mỹ, tách rời khỏi di sản văn học Anh trước đó.

Matthiessen xác định mốc thời gian của cuộc Phục hưng Mỹ là từ năm 1850 đến 1855, với 05 tác giả tiêu biểu gồm: Ralph Waldo Emerson, Nathaniel Hawthorne, Henry David Thoreau, Walt Whitman và Herman Melville. Ông nhận định những tác giả này sáng tác vì một nền dân chủ chân chính. Cũng chính vì lý do dân chủ mà Edgar Allan Poe không được Matthiessen đưa vào Phục hưng Mỹ, bởi ông cho rằng Poe có quan điểm thù địch đối với nền dân chủ và chia sẻ rất ít những quan niệm văn học cốt lõi với nhóm nhà văn trên (những tác phẩm của Poe cũng lệch khỏi khung thời gian mà Matthiessen xác định cho Phục hưng Mỹ). Sau này, khoảng thời gian Phục hưng Mỹ được xác định rộng hơn (1830-1865) và thêm vào một số tác giả nổi bật khác vào danh sách của Matthiessen, nổi bật có Edgar Allan Poe và Emily Dickinson (Reynolds, 2016).
Các nhà nghiên cứu thường phân loại các tác giả Phục hưng này theo hai nhóm gồm: Nhóm tươi sáng, tích cực với Emerson, Thoreau và Whitman; nhóm u tối, tiêu cực với Hawthorne, Melville và Poe; còn Dickinson thì nhập nhằng giữa hai nhóm sáng và tối (Reynolds, 2016). Ngoài ra, nếu xem xét những tác giả vừa đề cập là dòng chính, thì Phục hưng Mỹ lúc bấy giờ vẫn có những dòng ngách như: văn chương của nhóm tác giả người Mỹ gốc Phi (Frederick Douglass, William Wells Brown, Harriet Jacobs); văn chương của tác giả nữ với yếu tố tình cảm – gia đình (Harriet Beecher Stowe, Susan Warner, Fanny Fern); văn chương giật gân (George Lippard, George Thompson, Joseph Holt Ingraham, Ned Buntline, Sylvanus Cobb); v.v.

Sự chuyển dịch của kinh tế dẫn đến bùng nổ văn hóa giật gân
Phục hưng Mỹ cũng xuất hiện nhờ những biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế quốc gia. Trước 1830, kinh tế Mỹ là một nền kinh tế nông nghiệp đang trong quá trình tích lũy vốn, lao động và điều chỉnh công nghệ để chuẩn bị cho giai đoạn bứt tốc ngoạn mục bắt đầu từ thập niên 1830. Theo The Industrial Revolution in the United States: 1790-1870 (2025), trong giai đoạn từ năm 1830 đến 1875, nước Mỹ bước vào giai đoạn tăng tốc và định hình bản sắc công nghiệp khi chứng kiến nền kinh tế bứt tốc mạnh mẽ với mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người vươn lên đạt 1.1% mỗi năm.
Rosenbloom (2025) tổng hợp rằng những thành tựu nổi bật của thời kỳ này bao gồm việc ứng dụng rộng rãi động cơ hơi nước áp suất cao vào giao thông vận tải, sự ra đời của các nhà máy dệt quy mô lớn tích hợp mọi khâu sản xuất, hình thành “Hệ thống sản xuất Mỹ” và bùng nổ của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (với số lượng bằng sáng chế tăng cao). Nhìn chung, nước Mỹ chuyển mình từ một nền kinh tế chủ yếu làm nông nghiệp thành một quốc gia sở hữu năng lực sản xuất cơ khí và chế tạo quy mô lớn, hình thành nên nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mạnh mẽ. Rosenbloom (2025) nhận định sự phát triển của giao thông vận tải (đường thủy và đường sắt) đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển kinh tế của Mỹ thế kỷ XIX, từ đó thúc đẩy sự phát triển của các trung tâm đô thị. Mặt khác, sự bành trướng của các trung tâm đô thị cũng đóng vai trò như một lực kéo đối với nền công nghiệp. Sự tập trung dân cư tại các đô thị đã góp phần làm tăng nhu cầu tiêu thụ đối với các sản phẩm công nghiệp.

Điều tương tự cũng diễn ra đối với ngành in ấn khi tầng lớp thị dân tăng cao đã sản sinh nhu cầu tiêu thụ văn hóa khổng lồ. Một mặt, xuất bản phát triển thúc đẩy văn học – nghệ thuật và tri thức phổ biến rộng rãi đến công chúng. Mặt khác, lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ tạo nên trạng thái cạnh tranh giữa các đơn vị xuất bản, dẫn đến sự xuất hiện ồ ạt của báo chí, sách giá rẻ. Theo Reynolds (2016), báo chí và sách giá rẻ “một xu” (penny papers) thường nhắm đến túi tiền và thị hiếu của tầng lớp công nhân Mỹ bằng cách khai thác triệt để những vụ án mạng kinh hoàng, tai nạn, hay các bê bối rúng động. Hiện tượng này đã làm xuất hiện một nền văn hóa đại chúng mang tính chất giật gân, đưa văn chương giật gân trở thành một trong hai thể loại bán chạy nhất tại Mỹ bên cạnh văn chương tình cảm gia đình. Joseph Holt Ingraham, Ned Buntline và Sylvanus Cobb là những nhà văn Mỹ tiên phong đặt nền móng cho thể loại “tiểu thuyết giá rẻ” và tiểu thuyết dài kỳ trước giai đoạn Nội chiến.

Ảnh hưởng của văn hóa đại chúng đến văn chương Phục hưng Mỹ: Trường hợp của Hawthorne, Melville và Dickinson
Những tác giả nổi bật của văn chương thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng nhất định bởi văn hóa kịch tính, chủ yếu là ở nhóm các tác giả u tối. Nhà văn Nathaniel Hawthorne ưa thích những tác phẩm Gothic hay những câu chuyện tội phạm giết người đến từ những tập sách hay báo chí giật gân lúc bấy giờ. Một trong những cuốn sách yêu thích của ông là The Record of Crimes in the United States[1] ra mắt 1833. Con trai ông – tác giả Julian Hawthorne, chia sẻ rằng cha mình có một sự thèm khát thống thiết (pathetic craving) với những câu chuyện sát nhân máu me. Phần lớn các tác phẩm hư cấu của Hawthorne đều chứa đựng các chủ đề hoặc hình ảnh ăn khách từ văn chương giật gân phổ biến trong giai đoạn này (Reynolds, 2016).
Các tác phẩm khác của Hawthorne thường có sự xuất hiện của các nhân vật luật lệ dân sự, tôn giáo, hoặc tự biến mình thành tội phạm vì những xung đột tâm lý tăm tối – vốn là những kiểu nhân vật điển hình trên báo chí hoặc văn chương giật gân. Tiểu thuyết The Scarlet Letter được cho là lấy cảm hứng từ vụ sát hại Sarah Maria Cornell ở Tiverton năm vào 1832. Ngoài ra, những hình tượng nhân vật trong The Scarlet Letter được cho là lấy cảm hứng từ những nguyên mẫu nhân vật giật gân cực kỳ phổ biến thời đó như mục sư sa ngã (nhân vật Arthur Dimmesdale), người phụ nữ ngoại tình (nhân vật Hester Prynne). Riêng nhân vật Roger Chillingworth là sự kết hợp giữa hình mẫu người chồng bị cắm sừng ôm hận và nhà ngụy khoa học. Các tác phẩm như My Kinsman, Major Molineux (1831), The May-Pole of Merry Mount (1832), The House of the Seven Gables (1851), The Marble Faun (1860) đều có những kiểu nhân vật hay câu chuyện nằm ngoài vòng luật lệ.

Cũng lấy cảm hứng từ văn hóa đại chúng nhưng Herman Melville lại khai thác những nghịch lý sâu sắc trong xã hội, thông qua việc xây dựng những câu chuyện mang hơi hướm kịch tính, xây dựng hình tượng những kẻ phạm pháp (xét theo luật hàng hải và luật hình sự thế kỷ XIX) nhưng lại mang dáng vẻ đáng thương hoặc có lý do chính đáng (chẳng hạn như trong Typee, Omoo, Mardi, Redburn, White-Jacket, Bartleby, Moby-Dick, Benito Cereno, The Confidence-Man: His Masquerade). Melville chia sẻ rằng Typee (1846) và Omoo (1847) của ông là dành cho độc giả đại chúng, hoặc không dành cho ai cả. Bởi lẽ hai tiểu thuyết này mang đậm chất phiêu lưu kịch tính, chứa đựng những yếu tố kỳ lạ, ghê sợ xoay quanh tập tục ăn thịt người. Đây vốn là những yếu tố kích thích thu hút độc giả thời bấy giờ.
Những tác phẩm kể về chuyến hành trình phiêu lưu vốn đang là thị hiếu tiếp tục được Melville khai thác trong Mardi (1849), Redburn (1849). Mardi là thất bại thương mại đầu tiên của Melville do câu chuyện ẩn dụ triết học rườm rà không phù hợp với thị hiếu. Do đó, ông phải chiều lòng đại chúng, viết nhanh một tác phẩm dễ đọc mang yếu tố kịch tính là Redburn để “cứu đói”. Việc xây dựng những nghịch lý bắt nguồn từ văn hóa đại chúng và cốt truyện về hàng hải đã lên đến chín muồi trong Moby-Dick (1851). Khác với những câu chuyện phiêu lưu biển cả đơn thuần trước đó của Melville, Moby-Dick được xem như sự kết hợp đỉnh cao giữa kinh nghiệm thực tế, kịch tính bi kịch và những suy tưởng triết học sâu sắc, là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của thời kỳ Phục hưng Mỹ.

Nhà thơ Emily Dickinson – một tác giả vừa “tươi sáng” vừa “u tối”, cũng lấy làm thích thú trước những bản tin giật gân về cái chết trên mặt báo. Thậm chí, bà từng viết thư nhờ anh trai William Austin Dickinson đang ở Boston gửi về cho bà bất cứ tin tức nào gây sửng sốt. Chính sự quan tâm này mà những hình ảnh bạo lực, ghê rợn hoặc gây sốc thường xuất hiện trong thơ của bà ở thời kỳ đầu, như trong bài The Popular Heart is a Cannon first, Through lane it lay – through bramble, I never told the buried gold, I never hear the word ‘escape’, My Friend Attacks My Friend!, v.v. Từ năm 1861 đến 1865, thơ của Dickinson phơi bày sự tàn khốc và cái chết trần trụi của Nội chiến. Tiếp nối trải nghiệm sáng tác thơ ghê rợn ở thời kỳ đầu, Dickinson đẩy mạnh khai thác không khí chết chóc trên chiến trường (như bài My Portion is Defeat – today –) và hơn thế nữa là những hoài nghi tột cùng về cái chết và thế giới bên kia (như bài Because I could not stop for Death).
Edgar Allan Poe: Trường hợp đặc biệt của nhóm tác giả u tối
Khác với những tác giả trong nhóm u tối như Hawthorne và Melville, Poe hoàn toàn bị loại khỏi cuộc chơi ngay từ đầu (trong chính thời đại của ông) mà không cần sự loại trừ khỏi Phục hưng Mỹ của Matthiessen sau này. Trong ít nhất một thế kỷ, đặc biệt là tại Mỹ, Poe từng bị đánh giá thấp và chỉ trích là một nhà văn thứ yếu, hời hợt, suy đồi, một kẻ ngoại lai. Điều này trái ngược với sự tiếp nhận Poe ở châu Âu khi ông có cho mình vị thế chói lọi và được xem như người sáng lập ra mỹ học hiện đại. Poe mang tầm ảnh hưởng sâu rộng tới mức gần như “thần thánh” đối với những tên tuổi vĩ đại như Baudelaire, Dostoevsky, Mallarmé và Debussy (Goldbaek, 1991). Sau này, Matthiessen không đưa Poe vào nhóm Phục hưng Mỹ cũng vì sự khác biệt của ông. Văn chương của Hawthorne và Melville dù u tối nhưng vẫn hướng đến tinh thần dân chủ, đứng về phía con người bình dị và giá trị độc nhất của mỗi cá nhân. Còn Poe, văn chương của ông phản ứng mạnh mẽ với chủ nghĩa siêu nghiệm, chối bỏ niềm tin với nền dân chủ và sự tiến bộ của văn minh phương Tây. Theo Matthiessen (1941) thì Poe có vẻ “giả tạo” khi đối chiếu với chiều sâu đạo đức của Hawthorne hay Melville.

Dù vậy, vai trò của Poe trong nền văn học Mỹ nói chung và Phục hưng Mỹ nói riêng là không thể phủ nhận. Poe định hình và phát triển thể loại truyện ngắn, khai sinh thể loại trinh thám (với The Murders in the Rue Morgue được xem như truyện trinh thám đầu tiên trên thế giới), đưa tạp chí trở thành vũ khí cạnh tranh của văn học Mỹ, v.v. giúp nâng tầm vị thế của văn học Mỹ trên trường quốc tế (May, 2024). Trong đó, truyện ngắn kinh dị của ông đã trở thành biểu tượng văn hóa không chỉ của riêng văn học Mỹ mà còn của dòng văn học kinh dị của thế giới. Poe (cùng với Washington Irving) đưa văn học Mỹ hòa chung vào sự trỗi dậy của văn học Gothic kinh dị thế giới trong thế kỷ XIX.
Sự bùng nổ của ngành in ấn trong giai đoạn Phục hưng Mỹ đã tạo mảnh đất cho các nhà văn chuyên nghiệp sống bằng ngòi bút, và Poe là một trong số đó. Trong thập niên 1830, văn chương của Poe bắt đầu xuất hiện trên các tạp chí ở Bờ Đông như Philadelphia Saturday Courier, Baltimore Saturday Visiter. Kể từ đó, phần lớn các tác phẩm của ông đều xuất hiện lần đầu trên các ấn phẩm báo, tạp chí trước khi được xuất bản thành tuyển tập. Trong suốt cuộc đời của mình, Poe đã đóng góp rất nhiều vào lĩnh vực xuất bản tạp chí của Mỹ.
Quan sát tổng quan văn chương của Poe, có thể thấy ông chịu ảnh hưởng bởi văn hóa đại chúng giật gân thời bấy giờ. Những tác phẩm của ông thường sử dụng triệt để các chất liệu kịch tính, kinh dị, bạo lực, bí ẩn, u ám, khai thác những góc tối xã hội (kinh dị Gothic, truyện tội phạm) – vốn là đặc điểm của văn hóa đại chúng bấy giờ. Sự ra đời của truyện ngắn trinh thám The Murders in the Rue Morgue (1841) là minh chứng tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của những vụ án giật gân trên báo chí. Truyện ngắn The Mystery of Marie Rogêt (1842) được xem là truyện trinh thám sát nhân đầu tiên dựa trên sự kiện có thật, với tình tiết truyện dựa trên vụ sát hại Mary Cecilia Rogers vào năm 1841. The Cask of Amontillado (1846) được lấy cảm hứng từ mẩu chuyện A Man Built in a Wall của Joel Tyler Headley đăng trên tạp chí. Ngoài ra, The Balloon Hoax (1844) của Poe đăng trên tờ New York Sun như bản tường thuật sự kiện nóng hổi của báo chí (kể về chuyến đi phi thường vượt Đại Tây Dương bằng khinh khí cầu, thực chất, câu chuyện này là một trò lừa bịp đám đông của Poe). Dù vậy, trước khi bị phát hiện, trò chơi khăm khinh khí cầu này vẫn tạo hiệu ứng đám đông mạnh mẽ khi công chúng tụ tập trước tòa soạn New York Sun để cố mua tờ báo đăng câu chuyện này.

Tuy nhiên, chính Poe lại phê phán mạnh mẽ sự hỗn loạn của văn hóa đại chúng và nền dân chủ bầy đàn. Trò chơi khăm báo chí Mỹ bằng The Balloon Hoax như chứng minh sự ngu muội của đại chúng với tin tức đại trà. Việc viết The Mystery of Marie Rogêt từ câu chuyện sát nhân có thật hay The Cask of Amontillado từ một mẩu chuyện giật gân cũ là cách Poe xử lý những chủ đề quen thuộc một cách mới mẻ và tinh vi hơn. Reynolds (2016) nhận định Poe ghét những chủ đề đại trà khi chúng được xử lý một cách vụng về và thiếu kiểm soát. Dù các tác phẩm của ông viết về tội ác và bạo lực, Poe rất ghét việc miêu tả sự đau đớn thể xác hay máu me một cách quá mức, cũng như việc nhân vật tội phạm có được sự đồng cảm từ độc giả. Ông từng phê bình dữ dội những tác giả viết thứ văn chương gây sốc, kinh dị “rẻ tiền” như Joseph Holt Ingraham, William Gilmore Simms. Reynolds (2016) nhận định rằng Poe mắc kẹt ở trong trạng thái mâu thuẫn khi là một nhà văn đắm mình trong văn hóa đại chúng nhưng đồng thời, ở một số khía cạnh, lại có ác cảm với chính thứ văn hóa ấy.
Khi viết về con người, mặc dù Poe chủ yếu tập trung sự tha hóa, nỗi sợ hãi như những thông tin, sự kiện giật gân trên báo chí, nhưng ông đẩy mạnh khai thác những trạng thái tâm lý phức tạp của con người trước hiện thực phân mảnh. Nếu như Melville khai thác nghịch lý trong tính cách của nhân vật tội phạm nhằm khơi gợi sự đồng cảm, thì Poe lại khắc họa cái ác thuần túy trong những nhân vật tội phạm như thế. Những nhân vật phạm tội ác của Poe trong The Black Cat (1843), The Tell-Tale Heart (1843), The Imp of the Perverse (1845) sau khi phạm tội lại nảy sinh xung lực tự tố cáo chính mình. Sự trừng phạt đối với những nhân vật này không đến từ sự dằn vặt đạo đức truyền thống mà đến sự sụp đổ của một tâm trí bị hoang tưởng, của một con quỷ ương ngạnh, của một bản năng hủy hoại (death instinct) của con người mà sau này phân tâm học ở thế kỷ XX đề cập đến. Nhân vật “tôi” trong The Cask of Amontillado mặc dù không tố cáo bản thân sau khi phạm tội, nhưng hành động ác độc của anh ta cũng không hề được tiết lộ một động cơ cụ thể.

Đoạn bộc bạch của nhân vật “tôi” trong The Black Cat về sự hiểm ác đã thể hiện rõ phần nào quan điểm của Poe về bản chất của con người:
[…] sự hiểm ác này là một trong những bản năng cơ bản của con người – một trong những năng lực, hay tình cảm bất khả phân quan trọng nhất, nó tạo ra tính cách Con Người. Ai mà không từng, đến cả trăm lần, làm một điều xấu xa hoặc ngớ ngẩn, chỉ vì lý do duy nhất là hắn không nên làm vậy? Chẳng phải chúng ta đều có xu hướng vi phạm luật pháp, bất chấp lương tri, chỉ vì chúng ra hiểu nó đúng là như thế? […] Chính cái mong muốn không thể hiểu nổi của tâm hồn là làm trái ý nó – muốn dùng bạo lực với chính nó – muốn gây chuyện xấu xa chỉ vì sự xấu xa đó […] (Poe, 2024, tr.95)
Poe đem lại cảm giác giật gân cho độc giả nhưng không biến cái ác thành một thứ đáng để ngưỡng mộ hay thương xót. Đặc điểm này trong văn chương của Poe nhấn mạnh tính chất thế tục trong bản chất của con người. Ông buộc con người phải đối diện và gắn chặt với những thực tại trần trụi mang tính thế tục nhất.
Bùi Võ Trung Kiên
✦ Tài liệu tham khảo:
[1] Goldbaek, H. (1991). Poe in progress: A reappraisal. American Studies in Scandinavia, 23(2), 105–127
[2] Matthiessen, F. O. (1941). American renaissance: Art and expression in the age of Emerson and Whitman. Oxford University Press.
[3] May, C. E. (2024). Edgar Allan Poe. EBSCO.
[4] Poe, E. A. (2024). Vào vùng nước xoáy (Lê Minh Đức, Dịch). Nhà xuất bản Văn học.
[5] Reynolds, D. S. (2011). Beneath the American Renaissance: The subversive imagination in the age of Emerson and Melville. Oxford University Press.
[6] Reynolds, D. S. (2016). American renaissance. Trong The Oxford research encyclopedia of literature. Oxford University Press.
[7] Rosenbloom, J. L. (2025). The Industrial Revolution in the United States: 1790-1870 (NBER Working Paper No. 34225). National Bureau of Economic Research. https://doi.org/10.3386/w34225
[8] Schechter, H. (2012). Our long-standing obsession with true crime. Creative Nonfiction, (45).[9] The Editors of ProCon. (2026, ngày 9 tháng 6). True crime. Trong Encyclopedia Britannica.
[1] The Record of Crimes in the United States là tuyển tập những vụ án có thật kể chi tiết về những tội phạm khét tiếng của Mỹ.