Đầu thế kỷ XV, sau thành công cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống nhà Minh, nước Đại Việt bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Nguyễn Trãi (1380-1442) đứng trong dòng chảy hưng thịnh của đất nước lúc bấy giờ, hiện lên vừa là một vị anh hùng dân tộc, một nhà chiến lược quân sự, một nhà ngoại giao kiệt xuất, vừa là một nhà bác học, một nhà văn lớn. Di sản văn học đồ sộ của Nguyễn Trãi gồm những văn bản đa thể loại, viết về đa lĩnh vực, viết bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, đã phản ánh tầm vóc của một nhân cách lớn, góp phần xây dựng nên nền văn học trung kỳ trung đại Việt Nam nói riêng và cả văn học trung đại Việt Nam nói chung.
Văn học trung đại Việt Nam nằm trong thời kỳ “khu vực hóa” văn hóa với ảnh hưởng chính từ Trung Quốc. Do đó, văn học Việt Nam giai đoạn này không thể tránh khỏi những ảnh hưởng sâu rộng từ tư tưởng triết học và lý luận văn học của Trung Quốc. Tuy nhiên, mỗi quốc gia Đông Á lại mang bên trong sức mạnh dân tộc mãnh liệt để vừa tiếp thu yếu tố ngoại lai nhưng không làm mất đi giá trị dân tộc. Dựa trên lòng yêu nước nhiệt thành và tinh thần tự tôn dân tộc mãnh liệt của mình, Nguyễn Trãi không tiếp nhận tư tưởng lý luận văn học của Trung Quốc một cách rập khuôn mà mà gạn lọc cho phù hợp với thực tiễn bản địa. Trong bài viết này, chúng tôi thực hiện khảo sát và phân tích một số công trình của Nguyễn Trãi trong các tương quan ngoại sinh (tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc) và nội sinh (bối cảnh thời đại, tâm lý và trải nghiệm cá nhân của tác giả, v.v.). Qua đó, bài viết khám phá những ảnh hưởng của Trung Quốc trong quan niệm văn học của Nguyễn Trãi cũng như đặc sắc mang tính đột phá, khẳng định sự tự chủ trong tư tưởng nghệ thuật và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam của ông.

Hoàn cảnh lịch sử – xã hội là xung lực chính ảnh hưởng đến quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi sống trong khoảng chuyển tiếp của hai giai đoạn lớn. Về mặt lịch sử – xã hội, đó là thời kỳ chuyển giao triều đại từ nhà Trần sang nhà Hồ, tiếp sau đến nhà Lê sơ. Sự chuyển giao này thay đổi cục diện văn hóa từ trọng Nho – Phật – Đạo với Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo, sang khuynh hướng trọng Nho giáo là chủ yếu. Điều này đã dẫn đến văn học của Nguyễn Trãi nằm trong vùng ảnh hưởng, giao thoa giữa văn học Hán Nôm thời Lý – Trần (bao gồm cả thời nhà Hồ), văn học Hán Nôm thời Lê – Mạc. Thêm nữa, ở trung kỳ trung đại, ý thức Nho giáo đã bao trùm toàn bộ văn học giai đoạn này, rồi phát triển thành ý thức văn học mang tính điển hình của văn học trung đại của Việt Nam.
Thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, vốn là Nho sinh nghèo. Thân mẫu là bà Trần Thị Thái – con gái Tư đồ nhà Trần là Trần Nguyên Đán. Ông Phi Khanh sau này đỗ Nhị giáp tiến sĩ năm Long Khánh thứ hai nhưng không được cho ra làm quan nhà Trần vì đời tư, bèn lui về làng Nhị Khê dạy học. Trong lúc thân phụ dạy học ở quê, Nguyễn Trãi lớn lên trong dinh của Trần Nguyên Đán tại Thăng Long. Nền tảng gia đình học thức, thuộc tầng lớp quý tộc đã giúp ông sớm được tiếp thu kiến thức Hán học bài bản, với Nho học là hệ tư tưởng chính. Đây chính là cơ sở để Nguyễn Trãi tiếp thu quan niệm văn học của Trung Quốc. Bên cạnh đó, việc lớn lên trong sự giao thoa giữa trí tuệ học thuật giữa hai giai cấp xã hội cách biệt phần nào hình thành nên tư duy vượt khỏi những khuôn mẫu cứng nhắc.
Tuy nhiên, việc hình thành quan niệm văn học của Nguyễn Trãi không chỉ đến từ yếu tố sách vở mà còn xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân ông. Năm 1400, dưới triều nhà Hồ, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh, được trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Từ đây, ông cùng cha mình – khi này là Hàn lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, giúp triều đình thi hành cải cách kinh tế, chính trị và văn hóa. Với tư cách là một nhà chính trị, tri thức yêu nước từng chứng kiến sự hưng phế của triều đại này, Nguyễn Trãi đã có những lời phê phán gay gắt, đặc biệt trong cách thức đối xử với dân chúng và là nguồn cơn dẫn đến sự xâm lược của quân Minh. Trong Lam sơn thực lực, Nguyễn Trãi ghi nhận việc Hồ Quý Ly “cướp ngôi nhà Trần, đổi quốc hiệu làm Đại-ngu. Cuối cùng thất chính nhiều lần, bỏ thiếu không cống”. Trong Thư gửi Liễu Thăng, ông chỉ trích Hồ Quý Ly là kẻ “gây việc càn bậy, lật đổ bàn thờ cúng tổ tiên (họ Trần)”, đồng thời “đối với trên thì nói dối triều đình, đối với dưới thì làm khổ cực dân chúng”. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đúc kết nguyên nhân sâu xa dẫn đến cảnh nước mất nhà tan là do nhà Hồ, rằng “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà/ Trí sử nhân tâm chi oán bạn” (Vừa đây họ Hồ chính sự phiền hà / Để đến nỗi nhân tâm oán, phản). Trong nhiều bức thư gửi quân thù, Nguyễn Trãi cũng luôn nhắc đến nhà Hồ như một điểm yếu chí mạng dẫn đến tình cảnh quân Minh xâm lược, như “họ Hồ lỗi đạo” (trong Lá thư cho Phương Chính, vào 1426) hay “họ Hồ thất đức” (trong Thư dụ các thổ quan thành Điêu Diêu).
Năm 1407, quân Minh xâm lược Đại Ngu, Hồ Quý Ly và triều thần, gồm cả Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi hay tin liền cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo đoàn xe tù binh để phụng dưỡng cha. Tại Ải Nam Quan, Phi Khanh quát mắng Nguyễn Trãi rằng: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu…”. Đây như một bước ngoặt nhận thức, chuyển hóa toàn bộ lý tưởng sống và lý tưởng cầm bút của Nguyễn Trãi về vận mệnh của dân tộc.

Thêm nữa, quan niệm văn học của Nguyễn Trãi cũng được đúc kết thêm từ chính thực tiễn máu lửa của cuộc kháng chiến chống quân Minh. Sau khi Nguyễn Trãi từ biệt cha, trở về thành Đông Quan lại bị quân Minh bắt giữ. Từ năm 1407 đến 1416, Nguyễn Trãi như bị giam lỏng tại Đông Quan do quân Minh muốn sử dụng tài năng của ông. Dù vậy, Nguyễn Trãi đã một mực từ chối. Mặc dù chưa có nguồn tư liệu chứng minh đời sống của Nguyễn Trãi trong giai đoạn vừa đề cập, nhưng có thể phỏng đoán rằng xuyên suốt khoảng thời gian này, ông đã âm thầm quan sát và đánh giá tình hình chính trị, xã hội đương thời để lập sách lược cứu nước. Bởi lẽ, khoảng năm 1416 hoặc khoảng năm 1420, Nguyễn Trãi đã tìm đến dâng cho Lê Lợi Bình Ngô sách – chiến lược đánh đuổi giặc Minh. Sau đó là chuỗi ngày Nguyễn Trãi đóng vai trò tham mưu và ngoại giao cho nghĩa quân Lam Sơn. Từ đây, quan niệm văn học của Nguyễn Trãi gắn liền với khát vọng kiến tạo một xã hội thái bình, thịnh trị sau chiến tranh.
Về quan niệm “văn dĩ tải đạo” và “thi dĩ ngôn chí”
Triết lý Nho giáo mang tính chính trị – xã hội, giáo hóa đạo đức quân tử. Khổng Tử cho rằng để hình thành nên Văn cần có đạo đức. Thậm chí, ông đề cao đạo đức hơn văn chương khi phát biểu trong Luận ngữ, thiên Hiến vấn rằng: “Hữu đức giá tất hữu ngôn, hữu ngôn giá bất tất hữu đức” (Người có đạo đức thì ắt có lời hay, nhưng người có lời hay thì chưa hẳn là có đạo đức). Khổng Tử cho rằng để giáo dục con người, hình thành đạo đức cần bốn thứ là Văn, Hạnh, Trung, Tín. Ông đưa ra ý niệm “Văn chất bân bân” nhằm kiến tạo hình mẫu người quân tử lý tưởng, với “Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân nhiên hậu quân tử” (Chất lấn át văn ắt thô thiển, văn lấn át chất ắt rỗng tuếch, văn với chất nhuyễn vào nhau mới là bậc quân tử). Có thể thấy Chất ở đây đại diện cho phẩm chất đạo đức, tư tưởng và tình cảm chân thực bên trong.
Từ đây, trong dòng chảy lý luận văn học của Trung Quốc, văn chương được xem là phương tiện truyền tải những đạo lý này nhằm mục đích giáo hóa dân chúng, duy trì trật tự xã hội phong kiến, đặc biệt là trong lý luận văn học thời Tống – Nguyên. Chẳng hạn, Liễu Khai đời Tống viết: “Văn chương vi Đạo chi thuyên dã, thuyên khả vọng tác hồ?” (Văn chương là cái nơm của đạo, cái nơm có thể làm sai không?) , “Văn ố từ chi hoa ư lý, bất ố lý chi hoa ư từ dã” (Văn chương ngôn từ xấu mà đẹp ở lý thì có thể được chứ không thể lý xấu mà đẹp ở ngôn từ). Nhìn chung, Đạo thường được hiểu là đạo trời, đạo của các bậc thánh nhân, bao hàm các chuẩn mực luân lý đạo đức như tam cương và ngũ thường.
Về “thi dĩ ngôn chí”, trong Kim văn Thượng thư chương Thuấn điển viết: “Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn, thanh y vĩnh, luật hòa thành” (Thơ để nói chí ca, ca để lưu giữ lời, thanh điệu theo đó, âm luật phải hòa với thành điệu). Khổng Tử phát biểu: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán. Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức vu điểu, thú, thảo mộc chi danh.” (Thơ có thể làm khởi phát ý chí, có thể giúp nhận thức, có thể gắn kết cộng đồng, có thể bày tỏ ai oán). Trong triết lý Nho gia, tâm và chí thường không có sự phân biệt. Cả chí và tâm chính là nỗi lòng của con người những được biểu hiện ở những hình thái khác nhau. Nhìn chung, thơ ca dùng để bày tỏ ý chí, tâm tình của người viết.

Xem xét các trước tác của Nguyễn Trãi, có thể thấy quan niệm văn chương truyền tải đạo lý thấm đẫm trong văn học của Nguyễn Trãi. Ông không chủ yếu theo đuổi thứ văn chương hình thức, như Nguyễn Năng Tĩnh nhận xét “lời nào cũng bao hàm đầy ý nhân nghĩa đạo đức” (lời tựa Ức trai thi tập). Trong Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập và nhiều nghị luận bàn bạc của triều đình mà Nguyễn Trãi viết, lời nào cũng bao hàm ý nghĩa đạo đức để người đời học hỏi. Chẳng hạn, trong Bình Ngô đại cáo mở đầu bằng luận đề “Nhân, nghĩa chi cử, vụ tại an dân/ Điếu phạt chi sư, mạc tiên khứ bạo” (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo) đã cho đúc kết bài học tư tưởng trị quốc và quân sự cốt lõi về nhân nghĩa phải gắn liền với thực tiễn, lấy dân làm gốc”. Trong Bình Ngô đại cáo cũng có viết: “Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi diệt hung tàn/ Dĩ chí nhân nhi địch cường bạo” (Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân mà thay cường bạo). Hai câu văn đã đúc kết trọn vẹn đường lối đấu tranh, triết lý quân sự của dân tộc về đạo đức. Kẻ thù dùng bạo lực để thị uy, ta dùng đạo đức để thu phục. Trong Quân trung từ mệnh tập, phần Lại thư trả lời Phương Chính, Nguyễn Trãi dùng đạo đức Nho gia để lập luận rằng: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi.”; “đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của”. Trong triết học cổ đại Trung Quốc, “nhân nghĩa” chủ yếu đề cập đến mối quan hệ đạo đức nội tại giữa người với người, sự hoàn thiện nhân cách cá nhân và cách hành xử. Từ đó, có thể thấy rõ tư tưởng của Nguyễn Trãi thấm đẫm tư tưởng nhân nghĩa, do đó mỗi câu viết nên đều bao hàm những ý nghĩa đạo đức.
Về “thi dĩ ngôn chí”, thông qua Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập, có thể thấy thơ ca của Nguyễn Trãi vừa bộc bạch chí lớn cống hiến cho cộng đồng, vừa giãi bày nỗi niềm riêng tư, nổi bật là các chùm thơ Ngôn chí, Bảo kính cảnh giới và Tự thán. Nguyễn Trãi đã từng nhắc đến chức năng thơ ca truyền tải ý chí trong bài Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thủy rằng: “Cao trai độc tọa hồn vô mị/ Hảo bả tân thi hướng chí luân” (Buồng cao ngồi một mình vẫn không ngủ/ Hãy làm bài thơ mới mà nói đến chí của mình).
▶︎ Đọc thêm: Mùa xuân trong thơ ca của Nguyễn Trãi và Matsuo Bashō
Trong Ngôn chí, ông liên tục bộc lộ niềm băn khoăn, day dứt về đạo làm tôi, đạo làm con: “Bui có một niềm chăng nỡ trễ/ Đạo làm con liễn đạo làm tôi” (Ngôn chí, bài số 1), “Quân thân chưa báo lòng canh cánh/ Tình phụ cơm trời áo cha.” (Ngôn chí, bài số 7). Một số bài thơ khác như Răn sắc, Răn giận, Dạy con trai,… cũng mang nhưng triết lý nhằm khuyên răn con người. Từ quan niệm về “văn dĩ tải đạo”, có thể thấy văn chương đối với Nguyễn Trãi cũng chở theo nhiều đạo lý làm người quân tử, cốt mang mục đích giáo hóa.
Bảo kính cảnh giới, bài số 56 khắc họa cái chí của bậc trí thức luôn đau đáu trách nhiệm với non sông.
“Trí qua mười mới khả rằng nên,
Ỷ lấy Nho, hầu đấng hiền.
Đao bút phải dùng, tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép, việc càng chuyên.
Vệ nam mãi mãi ra tay thước,
Điện bắc đà đà yên phận tiên.
Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp,
Xưa nay cũng một sử xanh truyền.”
Hay Ngôn chí, bài số 14 vừa cho thấy Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học cổ của Trung Quốc (Khổng Tử, Chu Công, Sào Phủ, Hứa Do), vừa cho thấy cái chí của chính cuộc đời của ông.
“Bề sáu mươi dư tám chín thu,
Lưng gày da sảy, tướng lù cù.
Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào Hứa,
Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng Chu.
Bát cơm xoa, nhờ ơn xã tắc,
Căn lều cỏ, đội đức Đường Ngu.
Tơ hào chẳng có đền ơn chúa,
Dạy láng giềng mấy sĩ nho”.
Nguyễn Trãi là một con người yêu thiên nhiên, gắn bó với nhân dân, suốt đời mang nặng ân tình với đất nước và luôn tìm cách cống hiến cho đời đến tận những năm tháng cuối cùng. Ông tiếp cận đạo lý thánh hiền với tinh thần tu dưỡng tinh thần, trau dồi nhân cách, đem tri thức và nhân cách của mình ươm mầm cho thế hệ sau.

Thêm nữa, cái “khả dĩ oán” mà Khổng Tử bàn về chức năng của thơ, được Nguyễn Trãi thể hiện rõ trong bài Oán thán. Bài thơ này được viết vào năm 1429, khi Nguyễn Trãi bị tống giam vì bị nghi có liên can với Trần Nguyên Hãn – vị tướng bị tình nghi làm phản.
“Phù tục thăng trầm ngũ thập niên,
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh,
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối không tao nhục,
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên.”
Sự bi phẫn khi tấm lòng son bị oan uất và niềm tin vào đạo lý sẽ không vùi dập người mang sứ mệnh gìn giữ “tư văn”, như lời Khổng Tử khi bị vây ở đất Khuông rằng “Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kỳ như dư hà?”.
Từ đây, có thể thấy rằng dù Nguyễn Trãi không luận bàn trực tiếp về quan niệm văn học, nhưng thông qua các trước tác của ông, văn học phải gắn liền với đạo lý để giúp người giúp đời. Những ảnh hưởng từ Trung Quốc với “văn dĩ tải đạo” và “thi dĩ ngôn chí” đã cung cấp cho ông một khung tư duy mang tính hệ thống và những công cụ biểu đạt sắc bén. Tuy nhiên, thay vì bị đồng hóa hay dừng lại ở mức độ sao chép rập khuôn triết lý, Nguyễn Trãi đã chủ động biến đổi những triết lý ấy dựa trên kinh nghiệm cá nhân của mình để hình thành những quan niệm mới, xây dựng nên một hệ hình tư tưởng mà các học giả gọi là “Việt Nho” trong lĩnh vực văn chương.
Đặc sắc trong quan niệm văn học của Nguyễn Trãi
Văn học phải gắn liền với vận mệnh dân tộc
Trước khi bước vào trung kỳ trung đại, quan niệm văn học gắn liền với vận mệnh dân tộc đã tồn tại từ lâu trong truyền thống văn học bản địa Việt Nam. Khởi nguồn từ những truyền thuyết cổ đại về nguồn gốc dân tộc hay các anh hùng dân tộc (Sự tích họ Hồng Bàng, Thánh Gióng,…) cho đến văn học thời Lý – Trần (Nam quốc sơn hà, Hịch Tướng sĩ,…). Quan niệm văn học Nguyễn Trãi có sự kế thừa truyền thống yêu nước ấy, cùng với những ảnh hưởng về giáo dục Nho học của gia đình, đặc biệt là sau sự kiện với thân phụ Phi Khanh tại ải Nam Quan, cùng với đó là từng sinh sống trong triều đại ngắn ngủi của nhà Hồ cũng như giai đoạn quân Minh xâm lược đất nước. Do đó, đối với Nguyễn Trãi, văn học chở đạo, nhưng trước hết là chở lòng yêu nước, là ý thức tự tôn dân tộc, là tinh thần trách nhiệm bảo vệ sinh mệnh của dân chúng. Văn học chính là công cụ tư tưởng để bảo vệ độc lập của dân tộc. Bình Ngô đại cáo xuất hiện chính là minh chứng hùng hồn nhất cho quan niệm văn học phải gắn liền với vận mệnh dân tộc.
Bình Ngô đại cáo gồm 4 phần gồm: luận đề chính nghĩa, bản cáo trạng về tội ác của kẻ thù, quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lời tuyên bố độc lập. Trong đó, câu đầu tiên của bài cáo là “Nhân, nghĩa chi cử, vụ tại an dân/ Điếu phạt chi sư, mạc tiên khứ bạo” (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo), thể hiện rõ tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi. “Nhân nghĩa” đến từ triết lý Nho giao mang một nội hàm chính trị, xã hội, nhưng thông qua lăng kính của Nguyễn Trãi lại mang một thực tiễn cách mạng sâu sắc chưa từng có là “an dân”. Yên dân là mục đích tối thượng, là mang lại cuộc sống thanh bình, độc lập cho người dân Đại Việt. Muốn yên dân thì hành động tất yếu phải là “trừ bạo”, tức là cầm vũ khí tiêu diệt bọn cướp nước. Bằng cách định nghĩa này, Nguyễn Trãi đã đồng nhất tư tưởng nhân nghĩa với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa. Tiếp theo hai câu này, Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang/ Sơn, xuyên chi phong vực ký thù/ Nam bắc chi phong tục diệc dị” (Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng văn hiến đã lâu/ Sơn hà cương vực đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác). Bốn câu này đã góp phần củng cố sự độc lập của dân tộc đã có từ ngàn đời. Một dân tộc có chủ quyền và tồn tại song song cùng những triều đại lớn của Trung Quốc: “Việt Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc/ Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương” (Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương).

Xuyên suốt Bình Ngô đại cáo, kẻ đi xâm lược, tàn sát sinh linh bị phơi bày như những kẻ “bất nhân, bất nghĩa”, chống lại đạo trời: “Phiến thương sinh ư ngược diệm/ Hãm xích tử ư họa khanh” (Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ). Rõ ràng, xuyên suốt Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi không ngừng phơi bày tội ác của bọn giặc, cách chúng đối xử tàn bạo với người dân. Quân Minh xâm lược hai mươi năm ròng làm đủ chuyện ác nhân không thể dung thứ: “Liên binh, kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên/ Bại nghĩa, thương nhân, kiền khôn cơ hồ dục tức” (Ác chưa ngót hai mươi năm/ Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn). Ngược lại, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đại diện cho “đại nghĩa” và “chí nhân”, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều: “Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi diệt hung tàn/ Dĩ chí nhân nhi địch cường bạo” (Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân mà thay cường bạo). Đạo của Nguyễn Trãi là đạo lý phải được kiểm chứng bằng thực tiễn hành động, mang lại lợi ích thiết thực cho sự tồn vong và phát triển của dân tộc.
Bên cạnh đó, nếu văn học đã gắn với vận mệnh dân tộc, thì khía cạnh “dân chúng” phải đặt lên hàng đầu. Văn học phải vì dân, cũng như vì đất nước, cùng xây dựng một quốc gia văn hiến. Như đã đề cập, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định rằng “Nhân, nghĩa chi cử, vụ tại an dân” (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân). Ông đặt ra luận đề rằng việc tối hậu của nhân nghĩa là dân chúng phải sống trong cảnh thái bình.
Thêm nữa, khi vua Lê Thái Tông giao cho ông và Lương Đăng thẩm định nhã nhạc, Nguyễn Trãi đã tâu lên một quan điểm đậm chất Nho học nhưng mang tính nhân văn sâu sắc rằng: “Thời loạn thì dụng võ, thời bình thì dụng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc”. Nho giáo vô cùng coi trọng Lễ và Nhạc để ổn định trật tự xã hội. Tuy nhiên, Nguyễn Trãi nhấn mạnh rằng để làm được cái “gốc” của nhạc, nhà vua phải “rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc”. Có thể thấy, văn học phải dựa trên hạnh phúc dân chúng, phải góp phần xây dựng thiên hạ thái bình thịnh trị.
Có thể nhận định rằng việc Nguyễn Trãi quan niệm văn học gắn bó với người dân là đến từ hai giai đoạn: một là khi ông làm quan dưới thời nhà Hồ và chứng kiến cảnh dân chúng oán than bởi chính sách hà khắc của triều đình; hai là khi ông bị quân Minh giam lỏng ở Đông Quan (1407 đến 1416) và chứng kiến ách đô hộ khắc nghiệt của quân Minh.

Văn học là vũ khí sắc bén
Sự xâm lược của quân Minh và việc Nguyễn Trãi tham gia vào mặt trận quân sự với tư cách chiếc lược gia và nhà ngoại giao đã hình thành nên quan niệm văn học như là thứ vũ khí sắc bén trên chiến trường. Phạm Văn Đồng từng khẳng định văn chương của Nguyễn Trãi là một thứ vũ khí “mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao”. Bình Ngô sách mà Nguyễn Trãi trao cho Lê Lợi là văn bản phản ánh rõ nét quan niệm văn học, đặc biệt là văn chính luận, như một vũ khí chiến đấu trên chiến trường khi đất nước bị giặc ngoài xâm lược. Nội dung tư tưởng chủ yếu được đề cập trong Bình Ngô sách chính là “tâm công”, nghĩa là “đánh vào lòng người”. Bên cạnh đó, những thư từ, hịch, dụ trong Quân trung từ mệnh tập là minh chứng lịch sử phi thường nhất cho quan niệm “tâm công” này. Nhờ những áng văn chính luận sắc sảo đó, hàng loạt thành trì kiên cố của quân Minh như Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa, Tây Đô đã đầu hàng. Đỉnh điểm là vào cuối năm 1427, chính Tổng binh Vương Thông đã phải mở cửa thành Đông Quan cùng gần mười vạn quân xin hàng để được an toàn rút về nước.
Trong Bảo kính cảnh giới, bài số 5, Nguyễn Trãi đã thể hiện rằng văn học không phải là sự ẩn mình thụ động, mà phải đóng vai trò chủ động giữ gìn đạo trung để chống lại cái ác, cái xấu trong xã hội, đem lại cuộc sống no ấm cho nhân dân. Văn học như là một hành động thi hành đạo thánh trừ gian diệt bạo.
“[…] Văn chương chép lấy, đòi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn, phải đạo trung.
Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược,
Có nhân có trí có anh hùng […]”
Bảo kính cảnh giới, bài số 56 có nhắc đến “đao bút” nói lên vai trò “vũ khí chiến đấu” của nhà văn và văn học trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng. Trong bài thơ, Nguyễn Trãi quan niệm nhà văn phải biết dùng bút để đấu tranh, giúp bảo vệ nước Nam, làm yên đất Bắc, như thế mới vẹn toàn tài năng của mình.
“[…] Đao bút phải dùng, tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép, việc càng chuyên.
Vệ Nam mãi mãi ra tay thước,
Điện Bắc đà đà yên phận tiên […]”
Văn học gắn liền với “kinh bang tế thế”
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, chính ngòi bút của Nguyễn Trãi đã gánh vác trọng trách vĩ đại như thảo chiếu cầu hiền, chế định điển chương, pháp độ, soạn chiếu truyền bách quan, quy định lễ nhạc, và soạn văn bia Vĩnh Lăng ghi lại công đức của Lê Thái Tổ. Thông qua các văn bản này, văn chương trở thành hiến pháp đạo đức, định hình thể chế cho vương triều nhà Lê.
Lam Sơn thực lục (soạn năm 1431 dưới danh nghĩa Lê Thái Tổ) là một điển hình cho chức năng ghi chép lịch sử, tổng kết kinh nghiệm chiến tranh để lại bài học trị quốc cho muôn đời sau. Nguyễn Trãi đã khéo léo lồng ghép vào công trình sử học này những đoạn văn mang tính huyền thoại (chẳng hạn như mảnh sắt lạ mài ra chữ Thuận Thiên cùng chữ Lợi, con cáo trắng giúp đỡ,…), nhằm thần thánh hóa nguồn gốc của Lê Lợi, từ đó thu phục nhân tâm. Đồng thời, qua việc lý giải nguyên nhân thắng bại, Nguyễn Trãi đã biến văn học thành công cụ của sử học và triết học chính trị, góp phần củng cố nền tảng tư tưởng cho vương triều mới.
Kết luận
Thông qua khảo sát và phân tích một số công trình của Nguyễn Trãi trong các tương quan ngoại sinh và nội sinh, có thể thấy quan niệm văn học của Nguyễn Trãi chịu sự ảnh hưởng của triết lý Nho gia của Trung Quốc, chủ yếu là tư tưởng văn học truyền tải đạo lý và ý chí, tâm tình. Sự ảnh hưởng này đến từ truyền thống Nho học của gia đình.
Bên cạnh đó, các yếu tố văn hóa – chính trị – xã hội như truyền thống văn học bản địa, hoạt động chính trị dưới nhà Hồ hay sự xâm lược của quân Minh góp phần tạo nên sự đặc sắc riêng biệt trong quan niệm văn học của Nguyễn Trãi. Đối với ông, văn học phải gắn liền với vận mệnh dân tộc, phải phục vụ cho sự hạnh phúc của người dân, phải trở thành “vũ khí” bảo vệ đất nước vào thời loạn và trở thành công cụ xây dựng đất nước vào thời bình.
Bùi Võ Trung Kiên
✦ Tài liệu tham khảo:
[1] Đoàn Lê Giang. (2025). Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
[2] Hoàng Thúc Lân. (2020, ngày 22 tháng 12). Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Khoa Triết học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
[3] Trần Văn Trọng. (2021). Nguyễn Trãi (1380–1442) – Tác gia bách khoa thư Việt Nam. Từ điển học & Bách khoa thư, (1), 73–78.
[4] Viện Sử học. (1976). Nguyễn Trãi toàn tập. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.