Việt Nam may mắn sở hữu kho tàng nghệ thuật diễn xướng truyền thống vô cùng đa dạng, với nhiều loại hình như chèo, quan họ, ca trù, hát văn, v.v. Điện ảnh dĩ nhiên không bỏ qua kho tàng quý báu này. Từ rất lâu, các loại hình nghệ thuật truyền thống đã đóng góp không nhỏ, hay thậm chí trở thành chủ đề chính trong tác phẩm điện ảnh.
Quan họ: Người về đến hẹn lại lên
Đúng nửa thế kỷ trước, điện ảnh Việt Nam làm riêng một bộ phim tôn vinh nghệ thuật hát quan họ, đó là “Đến hẹn lại lên” (1974) của đạo diễn Trần Vũ. Bộ phim lấy bối cảnh làng quê xứ Kinh Bắc trong những ngày Tiền khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám. Nết (Như Quỳnh) và Chi (Vũ Tự Lẫm) đem lòng yêu nhau và yêu tiếng hát của nhau. Tình yêu đẹp này bị một tên trọc phú, đồng thời là tay sai của thực dân, dùng mọi thủ đoạn ngăn trở.

Bên cạnh chủ đề tình yêu và đấu tranh cách mạng, bộ phim giống như một giai điệu êm đềm ca ngợi vẻ đẹp nghệ thuật quan họ. Chẳng thế mà thời lượng nửa tiếng đầu phim được dành để miêu tả chi tiết không khí một ngày hội Lim mùa xuân năm 1940. Từ cảnh đấu vật, chơi đánh đu sôi động, hàng quán buôn bán náo nhiệt, cho tới cảnh vãi già lễ chùa cầu an trong nghi ngút khói hương,… Tất cả đều được tái hiện sinh động và chân thực.
Đẹp hơn tất cả là hình ảnh các liền anh bận “khăn xếp, áo the” và liền chị xúng xính “áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón thúng quai thao” lễ phép mời trầu, tình tứ hát giao duyên và bịn rịn trong giây phút chia tay.
Một số làn điệu quan họ nối tiếng liên tiếp được cất lên, như “Qua cầu gió bay”, “Tưởng đến gần xa”, và đặc biệt là trọn vẹn “Liên khúc giã bạn” bao gồm ba làn điệu trứ danh “Người ở đừng về”, “Kẻ Bắc người Nam” và “Con nhện giăng mùng”.
Tên bộ phim cũng rút từ câu hát trong bài “Con nhện giăng mùng”, giống như một lời ước hẹn trùng phùng giữa Nết và Chi. Để rồi mấy chục năm sau, trong lúc cô văn công Nết hát “Con nhện giăng mùng” cho cán bộ chiến sĩ nghe, một người quen nhận ra cô, và giúp cô đoàn tụ với Chi sau 20 năm xa cách.
Các nghệ sĩ của Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh, như Nguyễn Thị Cải, Nguyễn Thị Ngải, Nguyễn Thị Vạn, Nguyễn Duy Tráng…, thể hiện các làn điệu quan họ trong phim. Trong đó, đích thân liền anh Vũ Tự Lẫm đảm nhận thành công vai nam chính Chi.
Các làn điệu quan họ đã góp phần xây dựng nên bối cảnh lãng mạn, đằm thắm, đậm cái duyên quê Kinh Bắc. Người xem xúc động khi thấy ngay cả trong những năm tháng cam go ấy, tiếng hát dân tộc cũng không hề biến mất, mà vẫn luôn vút cao, đồng hành cùng nhân dân trên mọi chặng đường đấu tranh. Đồng thời, với những cảnh quay đậm chất tài liệu, phim cũng là một tư liệu quý giá về phong tục và nghệ thuật hát quan họ nửa thế kỷ trước.
Hát chèo: Tựa cửa trông ai, đăm đắm thương chờ
Chèo là nghệ thuật diễn xướng và sân khấu dân gian tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong một thiên niên kỷ ra đời và phát triển, chèo đã đi sâu vào tâm thức của người dân quê. Thấu hiểu điều này, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã đưa vào tác phẩm “Bao giờ cho đến tháng Mười” (1984) một trích đoạn chèo đặc sắc, qua đó đóng góp không nhỏ cho thành công chung của bộ phim.

Trích đoạn chèo này nằm trong vở chèo “Trương Viên”, một trong bảy vở chèo cổ còn lại đến ngày nay (phiên bản đổi mới có tên gọi là “Đôi ngọc lưu ly”). Chàng Trương Viên phải ra trận, để người vợ hiền Xuân Phương ở lại nhà chăm mẹ già. Còn ở phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”, nhân vật Duyên (Lê Vân thủ vai) được giao đóng vai nàng Xuân Phương, biểu diễn trong một ngày hội làng. Nghệ sĩ chèo Thu Hàn (Đặng Thị Hàn) là người hát lồng tiếng cho diễn viên Lê Vân, trong khi đó vai Trương Viên do nghệ sĩ chèo Đức Nghiêu đóng.
Duyên là một phụ nữ nông thôn tần tảo, cũng là một người chinh phụ giống như Xuân Phương. Nhưng nếu như Xuân Phương phải chờ chồng suốt mười tám năm mới được tái ngộ, thì Duyên đau đớn hơn, vì chồng cô mãi mãi nằm lại chiến địa. Duyên đã biết tin chồng tử trận trước khi biểu diễn chèo, nhưng cô đang giấu gia đình, do sợ bố chồng già cả không chịu đựng nổi. Khi đang biểu diễn trích đoạn “Xuân Phương tiễn Trương Viên ra trận”, thì Duyên bật khóc nức nở và chạy khỏi sân khấu trong ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người.
“Gối lẻ cô đơn, canh trường mưa gió
Tưởng những lúc sương rơi liễu rủ
Tựa cửa trông ai, đăm đắm thương chờ
Mấy mùa hoa rơi, mấy mùa lá rụng
Một dạ không phai, xa xôi muôn dặm ải ngoài…”
Đạo diễn Đặng Nhật Minh sử dụng thủ pháp nghệ thuật parallelism (tạm dịch: đối sánh song song), mà ông học từ vở kịch Hamlet của Shakespeare, để kết nối nỗi sầu chinh phụ của Xuân Phương và Duyên. Hai người phụ nữ ở hai thế giới khác biệt nhau. Một người tồn tại ước lệ trong thế giới nghệ thuật phong kiến, một người sinh sống trong thế giới hiện thực hiện đại. Nhưng họ vẫn đồng điệu cảm xúc, vẫn chia sẻ một nỗi đau chung – nỗi đau muôn thuở của người phụ nữ Việt Nam.
Đồng cảm với tình cảnh của Xuân Phương, cũng chính là của bản thân mình, nên Duyên không kìm được cảm xúc mà bật khóc. Trong phút giây ấy, ngay cả dự định giấu chặt trong lòng tin chồng tử trận cũng không giúp cô ngừng thổn thức.
Bộ phim “Mùi cỏ cháy” (2012) lại sử dụng chèo với mục đích hoàn toàn khác. Đạo diễn Hữu Mười từng đảm nhận vai nam chính Khang trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”. Thầy giáo Khang vô tình biết được chuyện buồn giấu kín của Duyên, vì thế là người duy nhất hiểu tại sao Duyên òa khóc khi đang diễn chèo.
Khi giữ trọng trách đạo diễn phim “Mùi cỏ cháy”, đạo diễn Hữu Mười cho nhân vật Thành (Lê Văn Thơm) hóa trang thành nữ và đóng vai nhân vật Thị Mầu trong trích đoạn chèo kinh điển “Thị Mầu lên chùa” (trích trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, cũng là một trong bảy vở chèo cổ giống như vở “Trương Viên”).
Đây là một trích đoạn nổi tiếng hài hước, thể hiện qua giọng điệu lẳng lơ của Thị Mầu. Lần này, chèo không nói lên nỗi lòng của nhân vật như trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười” nữa. Giữa khung cảnh đổ nát của Thành cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, tiết mục chèo đem lại cho các chiến sĩ tiếng cười sảng khoái, là phút giây thư giãn hiếm hoi trước khi trận đánh đẫm máu nổ ra. Đó là một hình ảnh thanh bình đối lập hoàn toàn với khói lửa chiến tranh.
Đan Thanh