Lược khảo về ma quỷ trong hội họa Trung Hoa

Bài viết này không có tham vọng khám phá sâu thế giới tâm linh, hay tìm hiểu các loại ma quỷ, mà chỉ muốn khảo qua những hình ảnh ma quỷ xuất hiện trong nền hội họa ngàn năm của Trung Quốc.

Nền văn minh Trung Hoa đã tồn tại hơn 4000 năm. Văn hóa dân gian, cùng với tín ngưỡng, tôn giáo bản địa như Đạo giáo, và tôn giáo ngoại lai như Phật giáo, đã tạo nên một thế giới ma quỷ muôn hình vạn trạng, thật khó để khái quát trong một bài viết ngắn.

Theo quan niệm dân gian, con người được tạo nên từ thể xác, hồn và phách. Hồn (魂) mang tính dương, chủ trị các hoạt động liên quan đến cảm xúc, tư duy. Phách (魄) mang tính âm, chịu trách nhiệm các bản năng sinh tồn như hô hấp, tuần hoàn, cảm giác,… Khi một người chết đi, hồn bay lên trời, có thể đầu thai, hoặc trở thành hương hồn tổ tiên. Còn phách về đất. Nếu phách không tan biến một cách bình yên, do còn oan khuất, dục vọng, hoặc nghiệp từ tiền kiếp, nó có thể trở thành quỷ (鬼). Nói ngắn gọn, quỷ là linh hồn của người đã chết, tự thân quỷ không mang tính xấu.

Đầu trâu và Mặt ngựa – Hai quỷ giúp việc cho Diêm Vương ở chốn Âm ty

Trong Kinh Lễ, Khổng Tử nói: “Mọi sinh vật ắt phải chết, chết rồi ắt trở về với đất – đó gọi là ‘Quỷ’. Xương thịt mục nát dưới đất, âm thầm hòa thành bụi đất đồng hoang”. Trong khi đó, ma (魔) lại dùng để chỉ những điều gian tà trong tâm hồn con người, cản trở người ta trên con đường tu tập. Từ đó có thể thấy cách hiểu ma và quỷ của người Trung Quốc và người Việt Nam có sự khác biệt. Người Việt Nam coi ma là linh hồn người chết, khá tương đồng với quỷ của người Trung Quốc.

Bài viết này dùng ma quỷ với nghĩa khái quát, chỉ những loài không phải người vật thông thường, cũng không phải thần tiên. Chúng thường có sức mạnh, phép thuật, và/hoặc có kết nối với thế giới linh hồn hoặc chốn Âm phủ.

Dưới đây là một số nhóm và loài ma quỷ, dẫn theo sách “Trung Hoa bách quỷ lục”.

  • Cô hồn dã quỷ – Các loài quỷ từng là con người, linh hồn vất vưởng chưa được đầu thai: Ái quỷ (quỷ treo cổ), Mộ quỷ (quỷ trong mộ), Cương Thi (xác chết biết đi),…
  • Yêu tinh – Các loài quỷ có linh hồn từ động vật, thực vật, đồ vật hóa thành: Xà quỷ, Miêu quỷ, Cẩu quỷ,…
  • Quan phủ âm giới – Những linh hồn có sức mạnh, cai quản nơi Âm giới: Tứ đại phán quan, Đầu trâu mặt ngựa, Hắc bạch vô thường, Dạ xoa,…
  • Ngạ quỷ – 36 loài quỷ đói được nhắc tới trong kinh Phật “Chánh niệm xứ”: Ngạ quỷ châm khẩu (quỷ miệng nhỏ như cây kim), Sí nhiên quỷ (Quỷ bốc cháy), Thực độc quỷ (quỷ ăn chất độc),…

Đó là một vài nét rất sơ lược về ma quỷ Trung Quốc. Bài viết này không có tham vọng khám phá sâu thế giới tâm linh, hay tìm hiểu các loại ma quỷ, mà chỉ muốn khảo qua những hình ảnh ma quỷ xuất hiện trong nền hội họa ngàn năm của Trung Quốc. “Ngoại Trữ Thuyết” của Hàn Phi chép:

Một người bạn vẽ tranh cho vua nước Tề xem. Vua hỏi:

“Cái gì vẽ khó nhất?”. Anh ta trả lời, “Chó, ngựa.”

“Còn cái gì vẽ dễ nhất?”. Anh đáp, “Ma quỷ”.

Chó ngựa thì ai ai cũng đều biết, sớm tối nhìn thấy trước mắt, không thể vẽ tùy tiện, cho nên khó vẽ. Còn ma quỷ chẳng ai thấy, nên muốn vẽ ra sao thì vẽ, thành ra dễ.

Địa ngục biến tướng đồ: Lời răn dạy dữ dội

“Địa ngục biến tướng đồ” (地狱变相图) là loại tranh miêu tả cảnh địa ngục, còn được gọi bằng nhiều cái tên như địa phủ, âm phủ, âm ty, diêm phủ, minh phủ, minh giới, v.v. Qua những hình ảnh dữ dội và kinh dị, tranh hướng tới mục đích “khuyến thiện, ngăn ác”, khiến người ta sợ mà không dám làm điều ác. Đồng thời, tranh cũng nhấn mạnh về nghiệp báo, khẳng định sự trừng phạt là do tự bản thân gây ra khi còn sống. Đây là loại tranh rất quan trọng trong văn hóa Phật giáo Trung Hoa, cũng như các nước Á Đông.

Loại tranh này có lẽ bắt đầu thịnh hành từ thời Đường – thời kỳ Phật giáo cực thịnh, và có câu chuyện gắn liền với đại danh họa Ngô Đạo Tử (吴道子). Sinh khoảng năm 683, mất khoảng năm 759, Ngô Đạo Tử được hậu thế tôn vinh là “Họa Thánh”. Chuyện kể rằng ông từng vẽ bức “Địa ngục biến tướng đồ” ở chùa Cảnh Vân, kinh đô Trường An. Cảnh âm ty tối tăm đáng sợ, bầy ma quỷ như từ trong tranh bước ra, khiến người ta sợ rợn tóc gáy. Tranh ông vẽ ám ảnh tới mức khiến cho những người hành nghề giết mổ gia súc và đánh bắt cá ở kinh thành sợ hãi phải bỏ nghề, vì họ lo kiếp sau sẽ chịu đọa đày ở địa ngục.

Trích đoạn “Tống tử Thiên Vương đồ” của Ngô Đạo Tử. Tranh chép lại của họa sĩ thời Tống.

Rất tiếc, cũng như phần lớn các tác phẩm khác của Ngô Đạo Tử, bức này đã không còn tồn tại đến ngày nay. Nhưng ít nhất ta có thể xem cách ông vẽ ma quỷ trong bức tranh “Tống tử Thiên Vương đồ” (送子天王图, Tiễn con của Thiên Vương), cho dù ngay cả bức này cũng là đời sau chép lại. Qua tranh có thể thấy Ngô Đạo Tử dùng bút pháp “bạch miêu” (chỉ vẽ nét, không tô màu) lên tới mức xuất thần nhập hóa, đường nét thanh thoát, uyển chuyển, gợi lên được cái “khí vận sinh động” của nhân vật.

Trích đoạn “Địa ngục biến tướng đồ” của Giang Dật Tử

Năm 2003, họa sĩ Giang Dật Tử (江逸子, sinh năm 1938) hoàn thành một bức “Địa ngục biến tướng đồ” hoành tráng. Bức tranh dài tới gần 14 mét, mô tả hàng ngàn nhân vật dưới Âm phủ, trong đó có rất nhiều loại quỷ: quỷ dạ xoa, quỷ cánh dơi, rắn sắt, chó lửa,…

Bộ tranh được chia làm 10 phần chính. Mỗi phần mô tả một Diêm phủ, do một vị Diêm vương cai quản. Mỗi vị Diêm vương sẽ chịu trách nhiệm xét xử một nhóm tội, và với mỗi tội sẽ có cách trừng phạt khác nhau. Từ chặt chân tay cho tới mổ bụng, moi gan; từ cho dơi hút máu cho tới mọt ăn thân xác; từ đổ nước sôi vào họng cho tới nấu trong vạc dầu, cách nào thì cũng đều cực kỳ tàn khốc.

Trích đoạn “Giang Hỏa sàng ngục” (Ngục giường lửa) trong “Địa ngục biến tướng đồ” của Giang Dật Tử thuộc Diêm la điện của Tần Quảng Vương. Trong kinh Luật Dị Tướng: “Kẻ phạm tà dâm, nam ôm cột đồng, nữ nằm giường sắt.”
Trích đoạn “Hỏa cẩu ngục” (Ngục chó lửa) trong “Địa ngục biến tướng đồ” của Giang Dật Tử thuộc Diêm la điện của Đô Thị Vương. A Tỳ Đàm Luận Kinh nói: “Chiên xào chúng sanh còn sống hoặc nuôi những động vật nhỏ rồi đem cho cọp beo ăn, sau khi chết đều phải đọa vào địa ngục này, chịu lấy chó lửa ăn nuốt và giẫm đạp.”
Trích đoạn trong “Địa ngục biến tướng đồ” của Giang Dật Tử thuộc Diêm la điện của Chuyển Luân Vương. Quỷ vương vẫy cành dương liễu, đã vẫy hàng ngàn hàng vạn quỷ hồn tùy theo nghiệp hải lưu chuyển mà đi đầu thai.

Là một hình thức giản lược của “Địa ngục biến tướng đồ”, bộ tranh “Thập điện Diêm vương”, hoặc ngắn gọn là “Thập điện”, chủ yếu mô tả cảnh các Diêm vương xét xử chứ không tập trung vào hình phạt. Giống như ở Trung Quốc, tại Việt Nam, các bức tranh vẽ, phù điêu hoặc tượng “Thập điện” cũng rất phổ biến tại các ngôi chùa theo Phật giáo Bắc truyền.

Ba trong số bộ 10 tranh “Thập điện Diêm vương”, chùa Vân Nội (Thanh Oai, Hà Nội), ra đời cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chung Quỳ: Cái thiện thắng cái ác

Ngoài tranh liên quan đến tôn giáo, phần lớn hình ảnh ma quỷ trong nền hội họa Trung Hoa được tìm thấy ở tranh vẽ Chung Quỳ (鍾馗). Nhân vật này không phải ma quỷ mà ngược lại là vị thần chuyên bắt ma, trừ tà – một vị “Phục Ma Đế Quân” (vua hàng phục ma quỷ). Cũng nhờ dòng tranh vẽ Chung Quỳ mà chúng ta có thể hiểu thêm về cách họa sĩ, đặc biệt là giới họa sĩ văn nhân (trí thức nho học), hình dung và thể hiện ma quỷ.

Trích đoạn tranh “Chung Quỳ” của Cung Khai (1221-1305), vẽ năm 1304

Tương truyền, trong một lần đi duyệt binh, vua Đường Minh Hoàng đột nhiên lâm bệnh nặng. Vua nằm mơ thấy hai con quỷ. Con quỷ nhỏ ăn cắp đồ của vua. Con quỷ lớn thấy vậy bèn tóm lấy con quỷ nhỏ, móc mắt nó ra rồi cho vào miệng nuốt sống.

Bầy quỷ trong tranh “Chung Quỳ” của Cung Khai (1221-1305), vẽ năm 1304

Vua hỏi danh tính thì còn quỷ lớn đáp: “Ta là Chung Quỳ, ta nguyện cùng bệ hạ trừ sạch yêu ma trong thiên hạ”. Sau khi tỉnh dậy, vua thấy trong người khỏe lại, liền ra lệnh cho “họa thánh” Ngô Đạo Tử họa tranh Chung Quỳ bắt quỷ. Ngô Đạo Tử vẽ giống hệt trong giấc mơ, khiến vua kinh ngạc thốt lên: “Khanh mơ cùng giấc mơ với trẫm hay sao mà vẽ giống đến vậy?”. Kể từ đó, Chung Quỳ trở thành một hình ảnh quen thuộc trong văn hóa dân gian, cũng như đề tài của các họa sĩ.

Quách Nhược Hư (thế kỷ XI) từng kể: “Có lần Ngô Đạo Tử vẽ chân dung Chung Quỳ. Đấng bất tử ấy ăn mặc rách rưới, mù một mắt, một cẳng chân thâm tím sưng vù, và đầu quấn khăn vành. Một tấm bảng viết gài vào thắt lưng. Bàn tay trái của ông túm chặt một con quỷ, còn bàn tay phải đang móc mắt nó. Đó là bức tranh sinh động nhất từng được vẽ ra trên đời này.”

Trong tranh, Chung Quỳ thường được khắc họa là một nhân vật hung tợn, râu ria xồm xoàm, thân hình hộ pháp. Có khi ông được vẽ một mình, hoặc có khi cùng đám ma quỷ đã chịu thần phục. Hay thú vị hơn nữa, như trong tranh của Cung Khai (phía trên), cả một đám quỷ khiêng kiệu và hầu hạ Chung Quỳ. Rõ ràng, ma quỷ trong tranh Chung Quỳ không phải để dọa người, cũng không để răn dạy như tranh Phật Giáo, mà là biểu hiện của sự chế ngự tà ma, cái thiện áp chế cái ác. Chính vì thế cứ dịp cuối năm nhà nhà lại dán tranh Chung Quỳ ngoài cửa để trừ tà, cầu may.

Tranh Chung Quỳ của Quách Hủ (郭诩, 1456-1532)
Tranh Chung Quỳ của Lý Khả Nhiễm (李可染, 1907–1989)
Tranh Chung Quỳ của Mẫn Trinh (1730-?), Ngô Vĩ (吳偉, khoảng 1459 – 1508) và Đới Tấn (戴进, 1388-1462)

Quỷ thú đồ: Mượn chuyển quỷ để nói chuyện người

Bộ tranh “Quỷ thú đồ” của La Sính, vẽ năm 1749

Họa sĩ thời Thanh, La Sính (罗聘, 1733-1799), là một trong những người hiếm hoi thực sự coi trọng đề tài ma quỷ. Ông là người trẻ nhất trong Dương Châu Bát Quái – một nhóm hội họa cách tân lừng danh thời kỳ này. Có lần ông từng tuyên bố rằng mình đã tận mắt trông thấy ma quỷ: “Một số con có răng hình hạt dưa, và ngón tay to bằng bắp đùi”.

Năm 1749, ông sáng tác bộ tranh “Quỷ thú đồ” (鬼趣图, Sự vui thú của quỷ), tiếng là mô tả cuộc sống của ma quỷ, nhưng kỳ thực chính là phê phán thói hư tật xấu của xã hội đương thời, như quan lại tham nhũng, bộ máy quan liêu, thói xu nịnh, sự mê tín, v.v. Điều này khá tương tự như cách Bồ Tùng Linh sử dụng yếu tố ma quỷ trong tác phẩm “Liêu trai chí dị” cùng thời.

Một tác phẩm trong bộ tranh “Quỷ thú đồ” của La Sính, vẽ năm 1749

Hãy cùng ngắm một trong các bức “Quỷ thú đồ” ở trên. Một con quỷ to xác đang cưỡi trên lưng một con quỷ ốm đói. Lời thơ đề trên tranh đại ý: Khi đói thì nuốt quỷ vào bụng, khiến bụng phình lên; nếu ăn còn thừa, ta cưỡi quỷ đi khắp chín tầng trời… Qua đó, bức tranh cùng lời thơ phê phán việc quan lại tham nhũng, vơ vét của cải của nhân dân đến “phình cả bụng”. Thậm chí khi vơ vét phủ phê rồi, chúng còn tiếp tục hành hạ, đè đầu cưỡi cổ bách tính.

Xét về kĩ thuật, tranh ma của La Sính đậm chất văn nhân tả ý họa. Ông dùng mực nhạt vẽ nét rất giản lược, phóng khoáng, tô một số mảng bằng mực và nếu dùng màu sắc thì cũng rất tiết kiệm. Mỗi bức tranh đều được đề thơ. Sự kết hợp thi – thư – họa đã tạo nên những tác phẩm châm biếm hết sức độc đáo và thâm sâu.

Tranh này miêu tả một một con quỷ kì quái “mặt dài một thước, thân dài bảy thước”
Dường như trong tranh là quỷ Bạch Vô Thường, chịu trách nhiễm dẫn hồn về Âm phủ

Sau La Sính, đề tài ma quỷ tiếp tục được Phổ Nho kế tục. Thuộc gia tộc Ái Tân Giác La, Phổ Nho (溥儒, 1896-1963) là anh em họ với Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của triều Thanh. Thậm chí, ông có khả năng trở thành hoàng đế kế vị Phổ Nghi nếu nhà Thanh không bị lật đổ năm 1911. Với tư cách họa sĩ, tên tuổi của ông sánh ngang với họa sĩ Trương Đại Thiên, thể hiện qua câu nói phổ biến thời đó: “Nam Trương Bắc Phổ”.

Bộ tranh “Quỷ thú đồ” của Phổ Nho

Phổ Nho vẽ khá nhiều tranh về ma quỷ và Chung Quỳ. Bộ tranh “Quỷ thú đồ” bao gồm 12 bức tranh lụa, vẽ các loại ma quỷ khác nhau, lấy cảm hứng từ sách vở mà ông đọc như Sơn Hải Kinh, Thái Bình quảng ký, Tây Du Ký, Tế Công truyện, v.v.

Ở mỗi tranh, ông thường vẽ đường nét trước rồi sau đó mới tô màu sắc hết sức nhã nhặn, đôi khi không cần lên màu. Ma quỷ ông vẽ dù trông kỳ lạ nhưng lại không hề đáng sợ, mà ngược lại có phần hài hước như bức hí họa. Phổ Nho dùng tranh ma quỷ như một cách tự trào sâu sắc. Chúng không chỉ giúp ông giải tỏa nỗi niềm tâm sự, nỗi đau trước thời cuộc và số phận, mà còn bộc lộ sự châm biếm sâu cay về xã hội. Chẳng hạn, bức hồ ly tinh mặc váy, đeo túi hiệu, đi giày cao gót ở dưới đây, chính là sự giễu nhãi lối sống chạy theo vật chất thời thượng, phù phiếm.

Hồ ly tinh, Phổ Nho
Long Bá, Phổ Nho

Qua bài viết này có thể thấy ma quỷ không phải là đề tài quan trọng với các họa sĩ truyền thống Trung Quốc. Thông thường họ chỉ vẽ để phục vụ mục đích tôn giáo (như trường hợp tranh “Địa ngục biến tướng đồ”), hoặc vẽ bên cạnh Chung Quỳ. Những họa sĩ thực sự theo đuổi đề tài này như La Sính hay Phổ Nho thực sự rất hiếm.

Lý do có thể bắt nguồn từ nền tảng Nho Giáo. Khổng Tử từng nói: “kính quỷ thần nhi viễn chi” (kính trọng quỷ thần nhưng giữ khoảng cách từ xa). Nho sĩ không hẳn không tin vào thế giới ma quỷ, nhưng luôn giữ khoảng cách và thận trọng khi bàn đến chúng. Họ ưu tiên thế giới thế tục, quan tâm tới cuộc đời thực, với thiên nhiên, sông núi, cỏ cây. Vì lẽ đó, các họa sĩ Trung Hoa ít để tâm tới đề tài ma quỷ chăng?

Đan Thanh

Tài liệu tham khảo:
[1] Lịch sử Mỹ thuật Trung Hoa (Dương Kỳ), NXB Dân Trí, 2025
[2] Hội họa Trung Hoa qua lời các vĩ nhân và danh họa (Lâm Ngữ Đường), NXB Mỹ thuật
[3] Trung Hoa bách quỷ lục (Linh Lan), NXB Hội nhà văn, 2024
[4] Địa ngục biến tướng đồ Nhân quả đồ giám, Giang Dật Tử tiên sinh họa, 2016
[5] Chinese Paintings of Ghosts and Gods | factanddetails.com
[6] 罗聘(款), 鬼趣图 | christies.com
[7] 他画了个什么“鬼”?| bjnews.com.cn