Tại sao người Việt lại thích bói Kiều?

Bói Kiều trở thành “người bạn tâm giao” mà người Việt tìm đến để thấu hiểu chính mình, dẫu đôi khi niềm tin ấy được thể hiện qua những nghi thức mang màu sắc tín ngưỡng dân gian.

Bài viết thuộc loạt bài do Vấn Vân Vận Kiều thực hiện. Goûtrends hợp tác truyền thông.

“Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thuý Kiều”. Chẳng biết từ bao giờ, lời lầm rầm khấn vái ấy đã trở thành một phần không thể thiếu trong nghi thức trước khi Bói Kiều. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi, tại sao người Việt lại thích bói Kiều?

Trước hết, cần hiểu rằng, bói Kiều cũng như nhiều loại bói khác, Truyện Kiều chỉ là công cụ để bói. Công việc bói toán trước hết cần xét 2 lý do chủ quan: tại sao con người ta lại xem bói và khách quan: tại sao phải là công cụ đó. Ở đây chỉ phân tích đến lý do thứ hai, hay nói cách khác, tìm hiểu xem truyện Kiều có gì để người ta biến nó thành một công cụ để bói toán. Đáp án cho câu hỏi này không ngoài một điều duy nhất: nghệ thuật kể chuyện của Tố Như tử.

Truyện Kiều, trước hết là quyển sách “của muôn vàn tâm trạng”, không ở đâu có nhiều tâm trạng khác nhau như trong Truyện Kiều”, nhưng đó là những “tâm trạng Việt Nam”. “Nếu buồn phiền, người ta thấy trong thơ những điều an ủi; nếu được may mắn, người ta thấy trong thơ hình tượng của hạnh phúc mình được mô tả bằng sắc màu rực rỡ […] Người ta thấy trong thơ một bức họa tuyệt vời của cuộc đời chìm nổi, nỗi quanh co rắc rối của nhân sinh”. Thơ Nguyễn Du là tiếng nói khao khát gắn kết con người với mạch sống của xã hội và dân tộc Việt.

Tư tưởng ấy không chỉ là nét riêng của thi hào mà còn in đậm dấu ấn tinh thần Việt, đặc điểm này của tư tưởng Nguyễn Du cũng là đặc điểm của tư tưởng Việt Nam. Người Việt Nam không sống dựa trên một thế lực tôn giáo nào, dù nó là Phật giáo, Đạo giáo, hay Khổng giáo. Họ không chấp nhận mọi yếu tố thần bí, cho nên không hề đi tìm một sự thống nhất với vũ trụ như ở phương Đông, hay với Thượng đế ở phương Tây. Họ tìm sự thống nhất với làng, với nước của họ, với những người dân đang sống thiếu thốn, nghèo khổ nhưng rất anh hùng.

Tranh Đông Hồ minh họa Truyện Kiều, do Giáo sư Jean Pierre Pascal sưu tầm | Nguồn: Phụ Nữ Online

Sẽ không phải là nói quá khi cho rằng Nguyễn Du đã mổ xẻ tâm trạng con người một cách tàn nhẫn. Từng góc khuất tình cảm con người đều được ông phân tích rồi tái hiện trong Truyện Kiều. Đó là lý do vì sao mọi sự trong Truyện Kiều, chữ tình, chữ hiếu, chữ trinh, tuy nó có đạo lý của nó, nhưng tất cả đều được diễn giải theo quy luật của chính trái tim, của lòng người.

Câu chuyện tình yêu trong Truyện Kiều gây tranh cãi từ lúc nó mới ra mắt tới giờ, là vì Nguyễn Du đã thể hiện tập trung nhất và táo bạo nhất. Tình yêu trong Truyện Kiều sinh chuyện, chỉ vì ông đã chọn cách mổ xẻ trái tim con người ra. Tình yêu của Truyện Kiều là tình yêu hết sức đa dạng. Mỗi mối tình lại được phanh phui theo đúng quy luật của nó.

Người ta thấy ở Truyện Kiều có một bể ái tình. Cái bể ái ấy trước hết gắn liền với yếu tố thể xác. Nó nói đến cái rung cảm của xác thịt và ca ngợi cái rung cảm ấy, nói đến chuyện “đầu mày cuối mắt”, nói đến “hai bên cùng liếc”, đến chuyện “ai có tiếc gì với ai?”. Nguyễn Du là người phân tích tâm lý tàn nhẫn không thể gượng nhẹ ở bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống nội tâm. Ông không thể nhân nhượng, gạt bỏ yếu tố nhục cảm ra khỏi tình yêu, nếu như yếu tố ấy thực sự có.

Khi nói đến yếu tố thể xác, Nguyễn Du cũng chỉ làm như các tài tử đương thời mà thôi. Nhưng nếu như các truyện Nôm chỉ dám dùng lại ở một cảnh gặp gỡ chung chung, trong đó thấy thoáng một tà áo trắng, vẻ mặt như Quan Âm thì Nguyễn Du chọn cách đi thẳng vào vấn đề. Không ở đâu có thể tìm thấy tư thế của hai người “Sượng sùng, giữ ý, rụt rè / Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu”, không ở đâu nói đến ngay cả sự thay đổi trong ánh mắt của người con gái: “Lặng nghe lời nói như ru / Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”, không ở đâu câu chuyện gặp gỡ được trình bày đầy đủ theo đúng quy luật tâm lý của một cuộc gặp gỡ đầu tiên, trong đó đôi bên hẹn hò, thề thốt. Các tác giả khác đều vội vã nói thật nhanh, Nguyễn Du không làm thế. Ông tôn trọng quy luật của lòng người.

Tình yêu ở Truyện Kiều là tình yêu luôn luôn gắn liền với sự mất mát, với lo sợ, với cảm giác rằng hạnh phúc rất mong manh. Ngay trong đêm tự tình với Kim Trọng, Kiều đã lo: “Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn / Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?”. Khi Thúc Sinh tỏ ý muốn lấy nàng, Kiều đã lo ngại về tình yêu của Thúc Sinh: “Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?”. Tuy vậy, sự giống nhau này chỉ là bên ngoài, thực chất hai nỗi lo sợ hết sức khác nhau.

Thế hệ tài tử của Nguyễn Du vẫn một lòng tin tưởng rằng hạnh phúc là điều có thực, con người xứng đáng có quyền được mưu cầu và nắm giữ niềm vui ấy. Thế nhưng, hiện thực xã hội phũ phàng và tàn khốc đã chà đạp lên mọi khát khao, biến những giấc mơ êm đềm thành bụi tro tàn. Kết cục, hạnh phúc chẳng còn nguyên vẹn, chỉ vương lại những mảnh vỡ đớn đau giữa cuộc đời bể dâu.

Yếu tố bất biến xuyên suốt Truyện Kiều, đó là hạnh phúc có thực. Mỗi nhân vật trong truyện Kiều lại có cách lý giải hạnh phúc khác nhau. Người thì cho hạnh phúc là: “Nghênh ngang một cõi biên thuỳ / Kém gì cô quả, kém gì bá vương”. Kẻ thì khẳng định: “Khi gió gác khi giăng sáng / Bầu tiên chuốc rượu câu thần nói thơ”. Người thì nghĩ: “Trai anh hùng, gái thuyền quyên / Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”.

Vì hạnh phúc tuy có thực, nhưng lại tan vỡ dễ dàng do quá nhiều chuyện con người không thể kiểm soát được, cho nên người ta mới háo hức “Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”, van nài “Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru?”, hấp tấp “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, cố sao đạt được mong muốn “Của tin gọi một chút này làm ghi”, lo âu, nơm nớp “Bây giờ rõ mặt đôi ta / Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”. Họ quyết tâm theo đuổi hạnh phúc “Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều”, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ “Thì đem vàng đá mà liều với thân”, dốc tất cả tài năng và nghị lực của mình để thực hiện cho kỳ được điều mong muốn.

Những nhân vật, câu thơ trong Truyện Kiều được thể hiện qua dự án Tarot Kiều | Nguồn: Saigoneer

Truyện Kiều của Nguyễn Du tựa như một bức tranh xã hội thu nhỏ, nơi hội tụ muôn vẻ thân phận con người: từ khuê nữ đài các như Thúy Kiều, Thúy Vân, đến kỹ nữ long đong chốn lầu xanh; từ người anh hùng “đội trời đạp đất” Từ Hải, người vợ Hoạn Thư đến người chồng hoà hảo Thúc Sinh. Mỗi nhân vật là một mảnh ghép phản chiếu đa chiều của xã hội phong kiến, vừa lãng mạn trong khát vọng tự do, tình yêu, vừa hiện thực trần trụi qua những bi kịch bị vùi dập bởi đồng tiền, quyền lực và định kiến.

Khi cầm Truyện Kiều lên, người Việt trước hết kinh ngạc trước khả năng “phẫu thuật tâm hồn” siêu việt của Nguyễn Du. Từng câu thơ như lưỡi dao sắc lẹm, phanh phui mọi góc khuất nội tâm mà chính độc giả còn chưa dám thừa nhận. Đọc Kiều, họ bỗng giật mình nhận ra: tác giả thấu tỏ lòng mình hơn cả chính họ tự phân tích! Đây chính là cuộc đối thoại ngầm giữa tác phẩm và người đọc: một cuộc so tài không công bằng, khi Nguyễn Du dùng ngòi bút “thấu thị” vạch trần mọi uẩn khúc khiến độc giả vừa sợ hãi vừa thán phục.

Dần dà, Kiều không còn là thú vui giải trí mà trở thành thứ “nghiện” khôn nguôi. Mỗi lần gặp trắc trở, người ta lại giở Kiều ra, và kỳ lạ thay, những câu thơ tưởng quen thuộc bỗng hiện lên lớp nghĩa mới, như thể tác phẩm “lớn lên” cùng nhịp đời của họ. Tuổi trẻ đọc thấy khát khao tình yêu mãnh liệt; tuổi già đọc thấy nỗi đau thân phận; lúc thành công nghe văng vẳng lời cảnh tỉnh “Chữ tài liền với chữ tai một vần”, lúc thất bại lại tìm thấy niềm an ủi “Thiện căn ở tại lòng ta”. Chính sự đa diện ấy khiến họ tin rằng Kiều chứa đựng lời tiên tri cho số phận, dẫn đến tập tục bói toán mang màu sắc mê tín: lạy vua Từ Hải, khấn vái Giác Duyên, xin “ba dòng” thơ như xin một lời chỉ dẫn từ cõi vô hình.

Xét cho cùng, bói Kiều cũng giống giải mã Kinh Dịch: cả hai đều dựa trên nguyên tắc “nghĩa thực” và “nghĩa ẩn”. Nếu Kinh Dịch dùng hào từ kỳ bí, lời lẽ u trầm buộc người bói phải vận dụng trí tuệ và kinh nghiệm để suy diễn thì bói Kiều lại dùng ngôn từ rõ ràng, trực tiếp chạm vào tâm tư người đọc. Khi gieo quẻ bằng một cặp lục bát ngẫu nhiên, họ không chỉ đọc nghĩa đen, mà đặt chúng vào bối cảnh riêng của mình, tìm kiếm sự đồng điệu giữa thân phận nhân vật và cuộc đời mình. Ví dụ, “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” có thể là lời khích lệ dấn thân, hoặc cảnh báo về sự liều lĩnh. Tất cả tùy thuộc vào cách người bói “giải mã” dựa trên trải nghiệm cá nhân.

Như vậy, sức hấp dẫn của Truyện Kiều trong tập tục bói toán không xuất phát từ yếu tố huyền bí đơn thuần, mà chính bởi khả năng phản ánh chân thực những trạng thái tâm lý phức tạp của con người. Tác phẩm như tấm gương đa chiều, soi rọi mọi cung bậc cảm xúc từ hy vọng đến tuyệt vọng, từ đam mê đến cam chịu. Điều này khiến nó trở thành “người bạn tâm giao” mà người Việt tìm đến để thấu hiểu chính mình, dẫu đôi khi niềm tin ấy được thể hiện qua những nghi thức mang màu sắc tín ngưỡng dân gian.

✦ Tài liệu tham khảo:
[1] Phan Khôi (1985). Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. NXB Thanh Niên
[2] Nguyễn Thanh Phong (2021). Truyện Kiều ở Nam bộ. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh