Sfumato – Hòa quyện tất cả như làn khói

Giới thiệu kỹ thuật hội họa sfumato và phân tích nó trong tác phẩm “Mona Lisa” cùng một số tác phẩm nổi tiếng khác.

Bằng kỹ thuật sfumato, Leonardo da Vinci cùng các bậc thầy Phục Hưng đã thổi luông sinh khí cùng vẻ bí ẩn mơ hồ các tác phẩm nghệ thuật.

Điều gì khiến Mona Lisa trông bí ẩn?

Với kích thước 77x53cm, bức tranh “Mona Lisa” chỉ chiếm một khoảng diện tích khiêm nhường trên tường bảo tàng Louvre rộng lớn. Vậy tại sao bức chân dung nhỏ bé này lại nổi tiếng đến thế? Ngoài bí ẩn về danh tính của nàng Mona Lisa, hay vụ trộm tranh chấn động năm 1911, tác phẩm này còn vang danh nhờ tài nghệ phi thường của người sáng tạo ra nó – đại danh họa Phục Hưng Leonardo da Vinci (1452-1519).

“Mona Lisa”, Leonardo da Vinci, khoảng 1503-1506 (có thể kéo dài đến khoảng năm 1517) | Nguồn: Wikimedia

Người ta tốn không ít giấy mực bình luận về nụ cười và suy đoán thái độ thực sự của nàng Mona Lisa. Điều kỳ lạ là cứ mỗi lần ngắm bức tranh, người xem như thấy một biểu cảm khác biệt. Lúc thì nàng ta mang nụ cười chế nhạo, lúc âu sầu, lúc lại trầm tư. Thật là kỳ lạ.

Không phải phép thuật gì, tất cả đều nhờ tuyệt kỹ của Leonardo da Vinci. Các họa sĩ Phục Hưng tiền bối của da Vinci đã tái dựng vẻ đẹp của con người với mức độ chân thực cao chưa từng có. Tuy nhiên, nhân vật thường có vẻ cứng nhắc, giống tượng hơn là người thật.

Leonardo da Vinci đã xuất sắc giải quyết vấn đề này. Ông nghĩ ra cách làm mờ các đường nét, hòa trộn các vùng màu vào với nhau, qua đó xóa nhòa ranh giới các thành tố trong tranh, buộc khán giả dùng đến trí tưởng tượng mỗi khi ngắm tranh. 

Trên gương mặt, mắt và môi là hai bộ phận chủ yếu tạo nên thần thái và tâm trạng. Hiểu điều đó, Da Vinci chú trọng làm mờ các đường nét quanh vùng mắt và môi, khiến vùng sáng và vùng tối chuyển tiếp hết sức mượt mà, không còn ranh giới rõ rệt. Chính điều này tạo nên cảm giác về tâm trạng khó đoán định của nàng Mona Lisa.

Leonardo da Vinci học được kỹ thuật làm biến mất đường nét, tạo nên ảo giác về chiều sâu này từ họa sĩ Andrea del Verocchio (1435-1488), thầy của ông. Verocchio đã dạy Leonardo rằng “Hãy vẽ sao cho chỗ sáng và tối hòa vào nhau mà không cần gạch hoặc vờn, sao cho trông như khói vậy.”

Hòa quyện tất cả như làn khói

Kỹ thuật mà Leonardo da Vinci sử dụng có tên là “Sfumato”. Trong tiếng Ý, từ “sfumato” là dạng quá khứ phân từ của động từ “sfumae”, có nghĩa là “giảm tông màu”, hoặc “tan biến như khói”. Bản thân “fumare” có nghĩa là “khói”. Kỹ thuật này giúp xóa các đường viền cứng nhắc, giúp cho vùng sáng và tối hòa vào nhau một cách mượt mà. Từ đó tạo nên cảm giác sâu sắc về hiện thực, nhưng có phần mơ hồ và bí ẩn.

Kỹ thuật sfumato luôn đi liền với tên tuổi của da Vinci, nhưng ông không phải là người phát minh ra nó. Theo sử gia nghệ thuật Giorgio Vasari (1511–1574), sfumato được phát minh bởi các họa sĩ trường phái Flemish, có lẽ nhờ công của các tên tuổi như Jan Van Eyck và Rogier Van Der Weyden.

“Virgin of the Rocks (Đức Mẹ Đồng trinh trong hang đá)”, Leonardo da Vinci, 1483–1486 | Nguồn: Wikimedia

Dẫu không phải là cha đẻ, không ai khác mà chính là Leonardo da Vinci đã đưa sfumato lên đỉnh cao, khiến cho hậu thế năm trăm năm sau vẫn phải kinh ngạc. Trước “Mona Lisa”, có lẽ tác phẩm đầu tiên mà da Vinci ứng dụng kỹ thuật này là bức tranh “Virgin of the Rocks (Đức Mẹ Đồng trinh trong hang đá). Tác phẩm này hoàn thành trong những năm 1483-1485, dành cho nhà nguyện San Francesco Grande ở thành phố Milan, Ý. 

Nguyên tắc nghe thì dễ, nhưng ứng dụng thành công lại không hề đơn giản. Theo nghiên cứu của giới sử gia nghệ thuật, Leonardo da Vinci đã phải tỉ mỉ đắp rất nhiều lớp màu mỏng (kỹ thuật “glaze” – vẽ láng) chồng lên nhau. Quét bức “Mona Lisa” bằng camera đa phổ hiện đại, các nhà khoa học phát hiện ra rằng các lớp láng này dùng một chất màu, gồm 1% màu đỏ son (vermillion) kết hợp với 99% màu trắng chì (lead white).

Da Vinci đã phải thử nghiệm nhiều lần mới đạt tới đỉnh cao trong “Mona Lisa”. Những lớp màu mỏng này cần phải được vẽ thật chậm và cực kỳ thận trọng. Thêm vào đó, thời gian để mỗi lớp khô thường kéo dài từ vài ngày cho tới vài tháng, phụ thuộc vào hàm lượng dầu và nhựa cây (resin) trong mỗi lớp. Đó là một trong những lý do khiến da Vinci phải mất ít nhất 4 năm trời mới hoàn thành “Mona Lisa” .

“Leonardo Painting The Mona Lisa (Leonardo vẽ nàng Mona Lisa)”, Cesare Maccari, 1863 | Nguồn: Wikimedia

Tuyệt kỹ của các bậc thầy Phục Hưng

Kỹ thuật sfumato, cùng với chiaroscuro, unione, và cangiante, được coi bốn phương pháp chính tắc của hội họa Phục Hưng. Chính vì thế nên không chỉ Leonardo da Vinci, các đại danh họa khác cũng bắt tay vào nghiên cứu và gặt hái thành công rực rỡ. Điển hình là Raphael (1483-1520), một trong ba “người khổng lồ” của hội họa Phục Hưng.

“Portrait of Bindo Altoviti (Chân dung Bindo Altoviti)”, Raphael, 1515 | Nguồn: The Collector

Không chỉ đơn thuần là người ứng dụng, Raphael còn phát triển nên phương pháp uninone, khác biệt với sfumato ở chỗ hòa sắc thường tươi sáng và rực rỡ hơn. Người xem thường phát hiện ở trên tay và mặt của nhân vật do Raphael vẽ một sự chuyển tiếp từ sáng sang tối hết sức nhẹ nhàng, tinh tế, bắt trọn hình khối tròn và uốn lượn của da người. 

Trong bức tranh “chân dung Bindo Altoviti” (1515), Raphael vẽ một thanh niên quay đầu ở góc ba phần tư, giống như tình cờ nhìn về phía người xem. Raphael chú trọng đến ánh sáng chiếu đến từ phía trái, tạo nên những vùng sáng mạnh trên gương mặt chàng trai, và chìm dần thành vùng bóng tối xám màu quanh hốc mắt và dưới cằm. Nhờ vậy, bức tranh toát nên vẻ tĩnh tại và huyền bí giống như Mona Lisa.

Một họa sĩ ít quen thuộc hơn một chút, Antonio da Correggio (1489-1534), cũng là một người áp dụng phương pháp sfumato rất thành công. Suốt thế kỷ 16, Correggio lừng danh trong việc sáng tạo các hiệu ứng ánh sáng đầy kỳ ảo thông qua sfumato. Ví dụ như trong tác phẩm “The Holy Night” (Đêm thần thánh, 1529-1530), Correggio mô tả luồng sáng thần thánh phát ra từ người của Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng tại trung tâm tranh. Ánh sáng đó lan ra, hòa quyện vào khung cảnh thân mật của những người chăn cừu và thiên thần đang vây xung quanh.

“The Holy Night (Đêm Thần Thánh)”, Antonio da Correggio, 1529-1530 | Nguồn: Wikimedia

Cùng với sự suy vi của nghệ thuật sơn dầu nhiều lớp cổ điển, ngày nay kỹ thuật Sfumato ít được sử dụng, hoặc nếu có cũng hiếm khi đạt mức tinh vi như thời Phục Hưng. Đó là điều đáng tiếc, nhưng đồng thời càng khiến người ta thêm ngưỡng mộ tài năng của các bậc thầy cổ điển.

Đan Thanh

✦ Tài liệu tham khảo:
[1] The Story of Art, E.H. Gombrich
[2] Kỹ thuật vẽ sơn dầu, Nguyễn Đình Đăng
[3] What Is Sfumato in Art? (4 Key Examples) | The Collector
[4] Definition of Sfumato: Art History Glossary | Thoughco