Phê bình sinh thái và nghiên cứu phê bình sinh thái trong văn học

Phê bình sinh thái – mối quan hệ hài hòa giữa thế giới nhân loại và thế giới tự nhiên.

Con người chúng ta đang ở trong thời kì kiệt quệ của “mẹ thiên nhiên”, thời kì mà cả sự sống của mọi sinh vật lẫn sự sống của con người trên Trái Đất đều bị đe dọa. Và chính chúng ta – những con người văn minh, tiến bộ, vì lợi ích của mình mà không ngừng khai thác, tận diệt, bóc lột tự nhiên, biến thế giới tự nhiên từ phong phú, đa dạng, xanh tươi, màu mỡ, trở thành nghèo nàn, đơn điệu, khô cằn,… Chúng ta chính là một trong những tác nhân gây nên sự biến đổi khí hậu, sự ô nhiễm môi trường,… đẩy sự sống của hành tinh xanh đi đến bờ vực của ngày tận thế.

Nguồn: Johann Siemens trên Unsplash

Nếu chỉ thay đổi mối quan hệ đang đi đến vực thẳm giữa con người và tự nhiên bằng việc dựa vào khoa học kĩ thuật thì sẽ không thể có được những kết quả tốt đẹp và vững bền, mà quan trọng nhất là việc thay đổi nhận thức, thay đổi thái độ sống từ mỗi cá nhân con người. Để làm được điều này, cần dựa vào khoa học nhân văn. Từ đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chú trọng hơn đến gắn kết văn học với môi trường. Và phê bình sinh thái trở thành một khuynh hướng phê bình văn học được ưa chuộng, phát triển rộng khắp toàn thế giới.

Phê bình sinh thái là gì?

Có rất nhiều những học giả trên thế giới tham gia nghiên cứu, để đưa ra những quan điểm của mình nhằm xây dựng khái niệm này. Trong đó, có một số khái niệm đáng chú ý:

Năm 1990, trong công trình “Những giá trị của văn học” (The Values of Literature), tác giả James S. Hans đã đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu. Văn học thường không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bên ngoài. Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị của chúng ta”.

Định nghĩa này cho thấy diện khảo sát của phê bình sinh thái không chỉ giới hạn ở mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mà còn mở rộng ra mối quan hệ giữa sinh thái trên Trái Đất với con người, từ đó nêu lên những giá trị của phê bình sinh thái. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa khoa học và logic, bởi tác giả chỉ đưa ra quan niệm đề cao môi trường tự nhiên của phê bình sinh thái, mà chưa nêu rõ được những tư tưởng và tiêu chí của phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học.

Năm 1994, tại thành phố Salt Lake (Mỹ) đã có gần 20 học giả đưa ra quan niệm để giới thuyết khái niệm phê bình sinh thái. Trong số đó, định nghĩa của Scott Slovic – hội trưởng đầu tiên của ASLE – The Association for the Study of Literature and Environment (Hội nghiên cứu văn học và môi trường) được đánh giá là quan trọng và có ảnh hưởng lớn nhất:

“Phê bình sinh thái chỉ là hai phương diện nghiên cứu. Vừa có thể sử dụng bất kì một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào, cho dù những văn bản ấy thoạt nhìn có vẻ như rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại. Điểm nóng của nghiên cứu mới này […] phản ánh nhận thức ngày càng lớn của các hội đương đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhân loại”. Khái niệm này cho thấy Scott Slovic đặc biệt chú trọng đến lối viết về tự nhiên trong văn học. Tuy nhiên, khái niệm này dễ khiến người đọc nhầm lẫn giữa “văn học sinh thái” và “lối viết tự nhiên”. Đồng thời, tác giả cũng chưa thể hiện rõ ý thức về thế giới “phi nhân loại” được nhìn từ quan điểm “chủ nghĩa sinh thái trung tâm” hay “chủ nghĩa nhân loại trung tâm”. Điều đó dẫn đến sự mập mờ, không rõ ràng cho định nghĩa phê bình sinh thái.

Nguồn: Kris-Mikael Krister on Unsplash

Năm 1996, “Tuyển tập Văn bản phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái văn học” (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên được xuất bản. Giáo sư Cheryll Glotfelty – nhà phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ, đã đưa ra khái niệm về phê bình sinh thái: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên”.

Khái niệm này được phần lớn các học giả trên thế giới và Việt Nam thừa nhận và sử dụng bởi tính ngắn gọn và hàm nghĩa rộng của nó. Để làm rõ hơn định nghĩa này, tác giả giải thích thêm: “Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất, với tư cách là một diễn ngôn lí thuyết, nó làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” và bổ sung: “Phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm”.

Nghiên cứu phê bình sinh thái trong văn học

Trước đây, mọi khuynh hướng phê bình trong văn học đều lấy “chủ nghĩa nhân loại trung tâm” làm định hướng nghiên cứu như: Phê bình xã hội học, Phân tâm học, Phê bình nữ quyền,… Tuy nhiên, việc quá đề cao vai trò và vị thế của con người mà không quan tâm đến tự nhiên lại là nguyên nhân gây ra sự khủng hoảng môi trường, sự tuyệt chủng của các loài sinh vật khác. Khi xét lại hầu hết các học thuyết tôn giáo – triết học như “Kinh Veda” (Ấn Độ), “Kinh Thánh” (Kitô giáo), triết học Marx,… có thể thấy được rằng những học thuyết đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử văn hóa của nhân loại vốn đề cao vị trí, vai trò của con người nhưng cũng không quên nhắc nhở loài người phải tiết chế hành vi nhằm xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên. 

Trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, phê bình sinh thái ra đời như một “phản ứng chậm” (vào những năm 70 của thế XX, trong khi các ngành khác đã có rất nhiều đóng góp nhằm bảo vệ môi trường) của giới nghiên cứu và phê bình văn học.

Nguồn: Marwan Haidar trên Unsplash

Do ảnh hưởng của bối cảnh, nên từ khi mới ra đời tại phương Tây, khuynh hướng nghiên cứu phê bình sinh thái đã lấy “chủ nghĩa sinh thái trung tâm” nhằm nghiên cứu và xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên. Các học giả theo quan điểm “chủ nghĩa sinh thái trung tâm” cực đoan đề cao tự nhiên, phê phán “chủ nghĩa nhân loại trung tâm”. Quan niệm này đã đi ngược lại lịch sử nghiên cứu văn học trong nhiều thế kỉ qua: Con người vốn đã quen với việc coi nhân loại là trung tâm, tự nhiên chỉ là để khai thác, sử dụng vào những mục đích, phục vụ cho lợi ích của con người.

Điều này đã gây khó khăn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về phê bình sinh thái. Quan điểm này cũng không tránh khỏi phi thực tế, bởi các học giả đi theo quan điểm này thường đặt lợi ích của tự nhiên lên trên lợi ích của nhân loại, vì “vật” hơn vì “người”. Tức là, con người phải để cho tự nhiên tự phát triển mà không được tạo bất cứ một tác động lớn nhỏ lên môi trường, như thế là xóa bỏ hoàn toàn cả những sự phát triển, tiến bộ tích cực của con người. Họ chỉ cực đoan đề cao môi trường tự nhiên mà quên mất một thực tế: chúng ta bảo vệ tự nhiên cũng chính là để bảo vệ môi trường sống của con người. Hơn nữa, với quan niệm “chủ nghĩa sinh thái trung tâm”, các học giả chỉ có thể nghiên cứu những văn bản văn học có nhắc đến miêu tả về môi trường tự nhiên (văn bản văn học sinh thái), đã khiến cho đề tài, phạm vi nghiên cứu của phê bình sinh thái trở nên hạn hẹp, có nguy cơ không thể phát triển được bền vững, lâu dài.

Nhận ra những bất cập trong việc xây dựng khuynh hướng nghiên cứu phê bình sinh thái theo tư tưởng “chủ nghĩa sinh thái trung tâm”, các học giả đã tiến tới xác định một quan niệm hợp lí, khả thi cho phê bình sinh thái… Đó là không cực đoan đề cao lợi ích của con người hay tự nhiên, mà đề cao mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, chú ý đến cả lợi ích của hai đối tượng: nhân loại và sinh thái.

Với việc xác định được một quan niệm hợp lí và đúng đắn, đề tài và phạm vi trong nghiên cứu về phê bình sinh thái đã được mở rộng, chứ không chỉ là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên, mà còn là bất kì những tác phẩm nào viết về tự nhiên, viết về tư tưởng sinh thái, đặc biệt là mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Đó chính là những mảnh đất màu mỡ cho khuynh hướng phê bình sinh thái phát triển mạnh mẽ ở Mỹ vào những năm 90 của thế kỷ XX.

Nguồn: Zülal trên Unsplash

Có thể thấy, khi phê bình sinh thái xác định được đúng trọng tâm nghiên cứu: mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên thì các học giả, những người tham gia nghiên cứu khuynh hướng này có thể dễ dàng khảo sát nhiều tác phẩm với các thể loại và nội dung khác nhau, đặc biệt là việc đọc lại các tác phẩm văn học lâu đời theo một góc nhìn mới. Chẳng hạn trong văn học Mỹ – một nền văn học mang đậm tính phiêu lưu, khám phá tự nhiên của con người, có thể nghiên cứu hàng loạt các tác phẩm của các tác giả nổi tiếng: Mark Twain, O. Henry, Jack London, Albert Payson Terhune, Ernest Hemingway,… dưới góc nhìn phê bình sinh thái.

Khuynh hướng phê bình sinh thái xây dựng cho các nhà nghiên cứu văn học một vai trò mới: không chỉ đơn thuần quan tâm đến học thuật, đến nội hàm của văn bản văn học, mà còn phải bước ra khỏi văn bản để gánh vác trọng trách thay đổi tư tưởng “nhân loại trung tâm” còn tồn tại trong xã hội, nâng cao thái độ và nhận thức của con người trong quan hệ với môi trường tự nhiên. Bước sang thế kỉ XXI, phê bình sinh thái được nghiên cứu theo một quan điểm “thiên về tính chất nhân chủng học và đặt bình diện xã hội làm trung tâm”. Theo đó, giới nghiên cứu tập trung nhiều vào các tác phẩm văn học viết về thành phố, đô thị, từ đó nêu lên những hệ lụy của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của con người tác động đến môi trường.

Không những thế, phê bình sinh thái còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu nội tại: tìm kiếm những biểu tượng thiên nhiên hay chú trọng đến phân tích kết cấu mang tính đối thoại giữa con người và tự nhiên, đi sâu vào phân tích điểm nhìn trần thuật và cả những tri thức, quan niệm của tác giả về sinh thái. Qua đó, phê bình sinh thái trong văn học đã phát hiện lại những vấn đề quan trọng, góp phần xây dựng mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh, từ đó nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của nhân loại.

Hồng Ngọc

✦ Tài liệu tham khảo:
[1] Lê Huy Bắc (2014), Văn học Mỹ, Nxb. Đại học Sư phạm
[2] M. Bakhtin, Những vấn đề về thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử (dịch, 1993), Nxb. Giáo dục
[3] Trần Lê Bảo (chủ biên – 2005), Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb. Đại học Sư phạm
[4] Mai Ngọc Chừ (chủ biên, 1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục
[5] Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên – 2017), Kỷ yếu hội thảo quốc tế Phê bình sinh thái – tiếng bản địa, tiếng nói toàn cầu, Nxb. Khoa học Xã hội