“Người ta chỉ muốn quên những điều xấu và tin vào những điều tốt được dựng lên.” (Rashōmon, 1950)
Sinh ra ở miền Nam, nhưng vì duyên cớ vô tình mà hai chị em đạo diễn Đoàn Minh Phượng và Đoàn Thành Nghĩa lại chọn đất Bắc làm bối cảnh cho tác phẩm điện ảnh của mình.
Qua vài chia sẻ hiếm hoi, ta biết được ý định ban đầu của đạo diễn Đoàn Minh Phượng là một cuốn tiểu thuyết. Nhưng chị nhận thấy rằng, cách nói chuyện của người xưa không thể nào bộc lộ rõ ràng qua con chữ không được. Nó cần được thể hiện thông qua nhiều phương diện. Điện ảnh tồn tại, như một liều thuốc giải cho nữ đạo diễn.

Hai chị em đạo diễn nhanh chóng trở về nước, đi rong ruổi nhiều tháng ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ, trải qua những khó khăn nhất định trong quá trình sản xuất lẫn trình chiếu bộ phim. Đến sau cùng, sau nhiều trở ngại thì vào hai ngày 15, 16 tháng 10 năm 2005, bộ phim mang tên “Hạt mưa rơi bao lâu” được hỗ trợ công chiếu bởi Viện Goethe.
“Hạt mưa rơi bao lâu” kể về cuộc đời một cô gái, vì chửa hoang mà dẫn đến những bi kịch cuộc đời và hành trình người con trai tìm về gốc tích, sự thật.
Thông qua cách kể chuyện độc đáo, việc đan xen các câu chuyện được kể và gây sai lệch về cuộc đời của cô gái đã khiến “Hạt mưa rơi bao lâu” như là một thay đổi có cố gắng của nền điện ảnh Việt Nam, nhằm thoát khỏi những định kiến và lối mòn trong tư duy nghệ thuật. Đối diện với một nền điện ảnh nhỏ bé cùng với cảm nhận nghệ thuật chưa chín của công chúng, bộ phim bộc lột rõ mong muốn thay đổi của mình, một mong muốn có phần “gan dạ”.
Quay về những hai trăm năm
“Hạt mưa rơi bao lâu” lấy bối cảnh tại làng quê Bắc bộ vào hai trăm năm trước. Đó là một dấu mốc để xác lập bối cảnh cho phù hợp, bởi bộ phim không đưa ta rõ một dẫn chứng cụ thể về thời điểm và địa điểm mà câu chuyện diễn ra. Trong xuyên suốt chiều dài bộ phim là một người con gái tìm kiếm tự do cho chính bản thân mình.
Câu chuyện bắt đầu từ Hiên, một chàng trai trẻ đang tìm tìm về gốc tích thân phận mình, tự hỏi liệu mẹ cậu là ai. Ở chặng đường ấy, cậu đến được một ngôi chùa, Hiên kể cho sư thầy trụ trì nghe về hai năm ròng tìm mẹ. Mọi thứ bắt nguồn từ một lần cô đào hát Hà Giang hỏi Hiên về người mẹ của anh:

“Ở đây ai cũng biết con không có mẹ, nhưng không ai hỏi… Nhưng hôm qua có người hỏi con vì người ấy ở xa tới. Con không biết phải trả lời sao… Cô ấy đi hát. Cô ấy đẹp lắm. Có lẽ mẹ con cũng giống như cô ấy. Không hiểu sao con nghĩ vậy. Có lẽ vì cái bài hát. Cô ấy hát lạ lắm.”
Câu hỏi của cô đào, cũng chính là câu hỏi mà Hiên đã tự hỏi từ lúc anh nhận thức được những gì xung quanh mình. Vì sao ai cũng có cha, có mẹ, nhưng bản thân anh lại sống trong cái cảnh không rõ mẹ mình. Suy nghĩ ấy quanh quẩn sâu trong Hiên từng ngày, từng ngày và có lẽ, chính cô đào hát Hà Giang là động lực để anh khẳng định suy nghĩ của mình, tìm kiếm cho mình một câu trả lời thoả đáng.
Sau ấy, Hiên trở về và chất vấn cha nuôi của mình, Tụy. Về bản thân anh và người mẹ không hình bóng. Lúc này đây, người xem được bộ phim kể những câu chuyện, về một người con gái.
Những câu chuyện kể
Lý An là một cô gái như bao cô gái và cũng khác bao cô gái. Cô lớn lên trong một ngôi làng chuyên nung tiểu sành đựng xương người chết, cả cuộc đời cô là để cắm mặt vào đất đen như bao người ở làng. Nhưng trong sâu thẳm, cô là một Lý An với những mơ mộng của riêng mình.
“Mơ thấy mình bước chân ra khỏi làng, dù chỉ một quãng thôi. Đi đến một cánh đồng, gặp một cây to, nhặt một bông hoa, nhìn lên cây không thấy hoa. Cây lớn, tán phủ bốn, năm căn nhà. Lúc mơ không thấy và cũng không nhớ nổi được đường về nhà […] Ở làng mình không có cây, chỉ có củi đốt lò…”
Giấc mơ ấy, không phải để biểu thị một hiện thực tàn khốc bao quanh cô, rằng cô không được bước chân khỏi ngôi làng này. Nó là chìa khoá, mở lấy cảnh cửa để Lý An được bước ra. Quyền yêu, quyền sống của cô được đánh thức, bản thân Lý An, hay tất thảy những người phụ nữ, không nằm mình dưới cái quyền lực của làng quê Việt, không cam chịu, lầm lũi an phận như cách mà những người đã từ bỏ chọn.
Lý An bước đi, ra khỏi làng mình. Dẫu chỉ là một quãng ngắn, nhưng đó là khi Lý An cảm thấy tự do, hạnh phúc nhất. Điều gì đến cũng đến, một lần đi xa trở về, Lý An mang thai. Cô mang thai mà không ai biết được người làm ra cái thai ấy là ai. Cha cô, một người có chức phận ở làng càng không thể chịu được nỗi nhục nhã này, ông đóng cảnh cửa nhà mình lại và xử lí chuyện cô con gái. Đóng cánh cửa ấy, không chỉ là của một ngôi nhà, mà nó còn là tương lai của Lý An, những mộng mơ, quyền sống và quyền yêu vừa mới chớm nở của cô giờ đây không còn nữa, chỉ vì một cánh cửa đã bị đóng lại.
Nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc Lý An đã mất tất cả, cô còn giữ một thứ, cô giữ lại được danh tính người cha đứa bé. Đó không phải vì thừa nhận“…thì có ra gì […] …thì còn biết sống ở đâu nữa […] …thì cứ coi như đã chết” mà việc giữ lấy danh tính ấy, như một tuyên ngôn về quyền riêng tư tuyệt đối của người phụ nữ. Họ sống và giữ lấy cho mình những bí mật lớn nhất, mà không quyền lực nào kể cả thần quyền, nam quyền giành lấy được.

Vì bất lực, cha cô đem cô cho làng xử tội. Với tư tưởng còn nặng nề của làng quê Bắc Bộ hai trăm năm trước, một cá nhân trong làng lại không chồng mà chửa, càng không xác định được người làm ra cái thai ấy là ai, đó như là một lời nguyền của làng, dân làng cần phải loại bỏ hậu hoạ. Lý An bị ruồng bỏ bởi tất cả người trong làng. Cô bị cạo đầu bôi vôi, tước bỏ hộ tịch, con của cô bị thả trôi theo sông cho “Quỷ Thần định đoạt”.
Vào thời điểm ấy, trong làng có ba người thợ mộc kết nghĩa anh em là Tuỵ, Vĩnh Hoa và Phan. Họ là những người tự phương xa đến làng, biết được chuyện của Lý An nhưng vì không phải là người làng mà không dám lên tiếng. Ngày xử tội của làng đến, trời bổng hoá cơn bão lớn khiến một số người dân trong làng chết. Nhân cơ hội ấy, ba người thợ mộc cứu lấy đứa bé đang trôi giữa dòng. Dưới sự phẫn nộ có phần sợ hãi của dân làng, họ cho bắt giam Lý An lại.
Câu chuyện được kể đến đây ngưng lại, người cha nuôi mất đi mang theo cả phần cuối cùng của câu chuyện. Hiên vẫn còn trong mình đầy những câu hỏi về cuộc đời của mẹ mình, anh bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, tìm về những nhân chứng được nhắc đến trong câu chuyện của người cha.
Anh tìm đến Phan, nghe ông kể rằng sau cơn bão thảm khốc ấy, người dân trong làng giải nghĩa nó như cơn thịnh nộ của thần linh “Thần Hoàng quở phạt chúng ta, việc trong làng có đứa nhơ nhuốc đã ăn nằm với ma quỷ… Vậy mà chúng ta lại dùng dằng không giết ngay, còn đem về nuôi. Trời cho nó sinh quý tử mà lại tha cho đi. […] dìm dưới sông đến chết.”, thân phận Lý An lần nữa bị định đoạt bởi thần linh, bởi những niềm tin mù quán của đám đông. Nghe xong câu chuyện từ Phan, Hiên tiếp bước cuộc hành trình của mình vì “cháu không tin mẹ cháu chết như vậy”.
Hiên tìm gặp Vĩnh Hoa, theo lời ông, các chức sắc trong làng cho rằng cơn bão chính là sự thịnh nộ của thần linh vì họ “đui mù tăm tối… Vì sao đui mù? Thì vì thần hoàng đã chọn cô gái đồng trinh đẹp nhất làng để mà làm thiếp. Thế mà chúng ta lại không biết.”. Thân phận Lý An từ một tội đồ của làng trở thành người hầu hạ viên chủ từ, là vợ Thần Hoàng. Câu chuyện được kể ấy lần nữa khiến Hiên không tin tưởng, vì anh cho rằng “cháu không tin mẹ cháu sống như vậy”.
Cuộc hành trình kể lại những câu chuyện được kể của Hiên lại tiếp bước, anh gặp lại đoàn hát, biết được tin cô đào Hà Giang đã bỏ gánh “đi theo thằng bán lụa”. Ngay tại lúc này, Hiên đã lấy cắp cây đàn đáy của gánh hát. Đây không rõ là một hành động bộc trực hay một ý đồ nào đó, có thể đó là những cố gắng của Hiên để níu lấy lý do cuộc hành trình bắt đầu, để giúp Hiên nhớ được bản thân mình chọn đối mặt và tìm câu trả lời cho câu hỏi đeo bám cuộc đời mình, bằng một lần nói chuyện với cô đào gánh hát.
Tìm đến sư thầy, đó là hy vọng cuối cùng của Hiên để được nghe kể một câu chuyện thoả đáng. Sư thầy và ngôi chùa này trong ký ức của anh chính là nơi để kết nối lại với người cha nuôi mình, Tuỵ, sư thầy kể lấy câu chuyện nhưng đó là câu chuyện mà ông ấy nghe được từ Tuỵ, về cuộc đời Lý An.

Sau khi cứu được đứa bé, vì đứa bé đói sữa mà ba người thợ mộc đưa ra quyết định cứu luôn cả Lý An. Cả bốn người cùng nhau đến nơi khác. Ba người đàn ông cùng Lý An chung sống với nhau, cả ba thay nhau mỗi người vào ngủ với cô và chăm sóc bé Hiên. Bản tính chiếm hữu ngày càng cao, khiến không ai trong số ba người muốn từ bỏ Lý An, từng người đều muốn Lý An là của riêng mình:
“Chúng ta sắp giết nhau vì một đứa con gái. Đã kết nghĩa anh em, thề không vướng vợ mắc con, mà bây giờ giết nhau vì một đứa con gái chửa hoang”.
Đến cuối cùng, thân phận của Lý An với những người bên ngoài vẫn là “đứa gái chửa hoang”. Thực tế phũ phàng ấy như đánh động vào tâm can của cô. Cô chọn khăn gối ôm con bỏ đi. Cô chống thuyền, chở con mình đi mãi trong khung cảnh núi rừng bát ngát.
Lý An đến sau cùng nằm chết trên một hòn đảo nhỏ giữa núi rừng. Tụy vì tình thương dành cho cô, đã chèo thuyền đi theo sau. Anh đưa Hiên trở về lại, kéo theo sau là xác của người con gái anh yêu. Tụy đem Hiên đi, đi đến ngôi chùa nơi mà hai cha con gặp sư thầy trụ trì, anh xin sư thầy được ở nhờ trong chùa để chăm sóc cho Hiên, thay vào đó anh sẽ tạc tượng gỗ cho chùa.
Người phụ nữ
Trong xuyên suốt chiều dài bộ phim, ta đi qua nhiều câu chuyện khác nhau về cuộc đời Lý An mà không chắc được rằng, đâu là câu chuyện đúng và thật nhất về cô. Thông qua việc lồng ghép nhiều lời kể đan xen vào một nội dung chung là cuộc đời Lý An, đạo diễn đã thể hiện được số phận bi thảm của những người phụ nữ làng quê xưa, các phong tục cổ hủ đè nén họ được khơi dậy và phê phán bằng từng câu chuyện được kể.
Đúng với cái tên tiếng Anh của bộ phim “Bride of Silence” (Nàng dâu của lặng im), câu chuyện về Lý An không nằm ở những gì mà cô kể, nó là chuỗi những câu chuyện được thêu dệt bởi những người đàn ông. Cuộc đời cô là chuỗi im lặng kéo dài từ lúc bắt đầu đến khi tàn lụi, cô sống chỉ chớm một lần nở khi được tự mình bước chân ra khỏi làng, rồi lại bị ép chặt vào những tư tưởng xưa cũ, chúng giết chết sự tự do trong cô.
Trong tác phẩm, Lý An có ba lần chết. Lần chết đầu tiên, đó là lời kể của Phan, Lý An bị dân làng cạo đầu bôi vôi, dìm xuống nước và chết đi, cô giữ lại tất cả những bí mật trong mình mà không ai rõ được. Lần chết thứ hai, đó là khi câu chuyện của Vĩnh Hoa bắt đầu, cô chết bởi chính cái đóng cửa tại ngôi nhà chủ từ, cô câm lặng chịu cái kiếp phận mà mình gắn liền. Để rồi đến lần chết cuối cùng, cô chết bởi nỗi đau của hiện thực, tưởng như rằng cô và ba người thợ mộc đã tìm được địa đàng tự do cho riêng mình, sống cùng nhau trong một tiểu xã hội quần hôn mẫu hệ, nhưng đến đỉnh điểm của lợi ích cá nhân lẫn tình yêu dần biến chất của ba người thợ mộc, cô chọn từ bỏ tất cả và kết thúc cuộc đời mình.

Những mộng ước của người phụ nữ, đặc biệt là những người muốn cho mình quyền tự do khỏi xã hội đầy ép buộc, khiến họ lệ thuộc vào những người đàn ông, được truyền tải qua từng thước phim. Câu chuyện về cuộc đời Lý An không chỉ của riêng cô mà còn là thân phận của biết bao người phụ nữ lúc bấy giờ.
“Hạt mưa rơi bao lâu” là tiếng lòng tinh tế của người phụ nữ, mong ước được sống và được yêu đúng với những gì mình muốn được vang vọng qua từng thước phim. Bộ phim là gửi lời phê bình sâu sắc đến thực trạng xã hội sâu cay mà người phụ nữ phải nếm chịu.
Nhưng bộ phim cũng không tránh được những sai lầm thường thấy trong điện ảnh Việt Nam cho đến hiện tại, việc kể chuyện gặp nhiều vấn đề khi các cảnh quay được cắt một cách bất hợp lý ở vài trường đoạn. Thiết kế phục trang và trang điểm cũng bị nhiều người phê bình bởi sự “sạch sẽ” quá mức so với bối cảnh được xây dựng trong câu chuyện. Thêm vào đó, ngoài những diễn viên gạo cội như Như Quỳnh thì phần lớn lời thoại cùng diễn xuất của các diễn viên diễn khác có phần thô, chưa đem tới được cảm xúc cần có để tác phẩm động tới tâm trạng người xem hơn.
Sự thay đổi mới lạ của “Hạt mưa rơi bao lâu” giữa bối cảnh phim Việt còn quá nhiều vấn đề như thời điểm bộ phim ra mắt là nổ lực đáng khen của nhà làm phim. Bộ phim là bài học sâu sắc để điện ảnh Việt Nam có thể phát triển hơn nữa trong tương lai. Tiếng nói về phụ nữ và nữ quyền đã hiếm hoi chạm tới được vào dòng chảy điện ảnh Việt Nam đương đại.
“Thân em như hạt mưa rào,
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.”
Anh Thái