Căn tính Nam Bộ trong tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam”

Từ nỗi nhớ quê hương da diết, nhà văn Đoàn Giỏi đã chấp bút viết nên cuộc hành trình kì thú dẫn độc giả tìm về vùng đất phương Nam bát ngát, bao la.

Nam Bộ tuy là vùng đất được khai phá muộn nhất, nhưng lại mang đến cho kho tàng văn hóa Việt Nam những giá trị cao đẹp. Văn hóa Nam Bộ được hình thành từ những bước chân không mệt mỏi, những cuộc tình không tên và những tháng ngày thấu hiểu thiên nhiên.

Nhà văn Đoàn Giỏi (1925-1989)

Vùng đất này là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa khác nhau, trong đó phải kể đến văn hóa Chăm và Khmer. Bên cạnh đó, thiên nhiên Nam Bộ mang đến sự khắc nghiệt khiến người dân nơi đây phải thích nghi để có thể sống hòa hợp. Chính những điều này đã tạo nên một nền văn hóa vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa hòa nhập với thế giới.

Tác phẩm “Đất rừng phương Nam” của nhà văn Đoàn Giỏi đã thể hiện sâu sắc những đặc sắc của văn hóa Nam Bộ. Ít ai biết rằng, đây là cuốn tiểu thuyết được viết theo “đơn đặt hàng” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, lúc bấy giờ là người phụ trách thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng. Từ nỗi nhớ quê hương da diết, nhà văn Đoàn Giỏi đã chấp bút viết nên cuộc hành trình kì thú dẫn độc giả tìm về vùng đất phương Nam bát ngát, bao la.

Không gian Nam Bộ

Đến với “Đất rừng phương Nam” không chỉ là cuộc hành trình của cậu bé An, mà còn là cuộc phiêu lưu của chính người đọc.

Không gian Nam Bộ trong tác phẩm hiện lên một cách chân thật và gần gũi. Không ít lần ta thấy được những con sông được nhắc đến trong bộ truyện, nhưng điều đặc biệt là tác giả không hề nhấn mạnh những dòng sông ấy, vì với con người Nam Bộ, sông cũng chính là cuộc đời, là không gian sinh hoạt văn hoá của riêng họ.

Sông nước Nam Bộ từ đầu bộ truyện đã đi theo An trong cuộc hành trình về đất phương Nam. Cậu bé vì lạc mất gia đình mà phải đi theo đoàn thuyền vận tải của Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ từ Hậu Giang đến vùng xóm chợ nơi dì Tư Béo cất quán.

Rồi cũng từ con sông, cái nước mà An gặp được Cò và gia đình của Cò, có được cho mình người tía nuôi và sinh sống trên chiếc thuyền của gia đình tía, cả nhà lênh đênh và đi đến những nơi “ngôi quán lá cất nhoai ra bờ nước”, rồi lại chưa kịp quen với vùng đất lạ thì phải dạt xuống Sróc Miên để tới Cà Mau.

Bởi thế mà với người dân Nam Bộ, còn sông thì còn sống. Không phải lối sống cố định như người dân Bắc Bộ, nhân dân Nam Bộ sẵn sàng bỏ những ngôi nhà vững chắc trên đất liền mà trèo lên ghe, đi khắp mọi nơi mà dòng Cửu Long chảy đến để kiếm cái ăn, cái mặc.

Dẫu thế, sông cho nhiều cũng lấy đi nhiều, An lưu lạc khắp Nam Bộ cũng bởi đoàn thuyền của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ theo sông đi mất, dòng sông cũng đưa đẩy cậu bé dạt theo những con đường khác đầy thử thách.

Chính những mất mát này của An cũng là những đau đớn mà nhân dân Nam Bộ phải trải qua trong thời kỳ bấy giờ. Họ phải lênh đênh cuộc đời mình trên sông mặc cho sông mà định phận, họ chấp nhận ngủ và sinh sống trên những chiếc ghe, chiếc thuyền để giặc Pháp không làm gì được. Đời sống khó khăn, áp lực đẩy cao từ những tên giặc cướp nước, nhưng nhân dân lại chấp nhận và cùng nhau vượt qua thử thách ấy của thời cuộc.

Nhưng Nam Bộ nào chỉ có sông, mà còn là những cánh rừng bạt ngàn trải dài khắp vùng đất này.

Vườn quốc gia U Minh Hạ | Nguồn: Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Cà Mau

Rừng vốn đã là thử thách to lớn cho con người Nam Bộ trong thời kỳ đầu khai hoang, chả phải tự nhiên mà nhân dân Nam Bộ lại có câu ca dao:

“Rừng thiêng, nước độc, thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”

Nhưng dẫu có nhiều thách thức, rừng lại đem tới cho những kẻ liều lĩnh các phần quà hậu hĩnh. Đối với Võ Tòng, có lẽ rừng đem đến cho anh một chốn dung thân, đem cho anh những người bạn lạ, còn với ông Hai và gia đình ông, rừng lại là nơi cho họ thức quà quý giá giúp cuộc sống lênh đênh trên dòng Cửu Long bớt phần khổ cực:

“Gió thổi có hạng, cây tốt cũng có vùng. Chọn được vùng rừng tốt, biết rằng đến mùa xuân tràm sẽ kết nhiều hoa, mình mới định chỗ gác kèo. Phải xem hướng gió, tính trước đường bay của ong mật. Đó là những chỗ “ấm”, cây dày, không bị ngọn gió thốc thẳng vào và ít khi có những dấu chân người đi bắt rắn, người đốn củi lội đến…”

Mật của ong rừng quý giá là thế, nhưng cũng là thử thách khi dẫu có những kẻ hơn chục năm kinh nghiệm săn bắt mật, nhưng chỉ cần đoán sai hướng gió, chọn sai khu vực cũng đủ để khiến kẻ ấy bỏ một ngày công cốc.

Nhưng điều làm rừng đặc biệt nhất, là việc nó trở thành chốn ẩn náu cho bộ đội ta thời kỳ chống Pháp: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

Trong bối cảnh khi mà mọi vùng quê Nam Bộ đều có dấu chân thực dân Pháp, rừng chính là lá chắn tự nhiên bảo vệ những người con quê hương, ngăn cản bước đi của đám ngoại phạm. Và trong khu rừng, những người lính Nam Bộ cũng như những nhánh cây, họ kiên cường vững chắc, dẫu đi qua khó khăn gian khổ của đất trời, của thiên nhiên nhưng vẫn một lòng đi thẳng.

Không gian cuối cùng đặc nét Nam Bộ mà Đoàn Giỏi viết ra chính là không gian chợ. Chợ Nam Bộ khác với chợ của các vùng đất khác, vì đặc trưng sống lênh đênh nên mỗi khu chợ Nam Bộ không thuần một thức quà ăn của khu vực ấy mà còn là sự giao thoa của nhiều khu vực khác:

“Chao ôi! Chợ gì mà lạ lùng thế này? Bộ Tây sắp đánh tới nơi, nên người ta đem vườn bách thú ra phát mãi hay sao! Một con ba ba to gần bằng cái nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt. Những con rùa vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp, như đổ ở cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé. Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán… Những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật… hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh. Có tiếng chim gì mổ nhau kêu quang quác… Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy tôi đi qua, nó nhe răng khẹc khẹc,… dường như muốn bảo tôi hỏi giùm tại sao cái lão rậm râu kia không thả mối dây xích cổ ra để nó được tự do đi chơi như tôi…”

Con người Nam Bộ

Nếu ví sông, rừng và chợ là các đường tròn đồng tâm, thì con người Nam Bộ chính là tâm điểm của những đường tròn ấy.

Khi đọc tác phẩm, ta không khỏi cảm thán cái tính cách của người Nam Bộ. Họ không sử dụng cách nói chuyện đao to búa lớn, họ càng không coi trọng quá nhiều lễ nghĩa Nho giáo, họ thuận theo thiên nhiên mà sinh ra cái tính thẳng thắn, chất phác.

Người Nam Bộ thương thì nói thương, ghét thì nói ghét, nhưng lời nói của họ lại dịu dàng, đầm thắm. Đôi khi nghe người Nam Bộ la mắng, ta còn không thấy được sự giận dữ trong câu nói ấy: “– Ai bảo mày lội vô đây? Rồi tao bảo cho má mày biết để bả dần cho mày một trận. Thôi, bước xuống cái vũng bên phía bên trái ấy, rửa mình ngay đi. Y như thằng mò bùn bắt cá cạn.”

Đoàn Giỏi đã xuất sắc trong việc đem đến cho câu truyện sự tự nhiên cần có bằng cách sử dụng nhiều phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm. Nếu là một người con miền Tây Nam Bộ, ta có thể thừa nhận rằng khi đọc tác phẩm chả cần nhìn xuống dòng footnote hay giải nghĩa gì về câu chữ, vì vốn ngôn ngữ trong tác phẩm chính là thứ ngôn ngữ ta đang nói. Cách dùng từ, cách sử dụng ngữ điệu, cách con người Nam Bộ nói chuyện với nhau, đầy sống động:

“Bọn con nít từ khắp các ngõ ngách, từ trong chỗ tối, từ dưới thuyền dưới xuống chèo lên, ba chân bốn cẳng reo hò chạy về chỗ đám hát rong. Tự nhiên hai chân tôi cũng ngứa ngáy muốn tuôn theo.”

Không chỉ nằm lại trong câu nói, hành động của con người Nam Bộ cũng được Đoàn Giỏi thâu vào ống kính của mình. Đời sống dẫu khó khăn nhưng ta nào quên được cách mà gia đình ông Hai và bà Hai gửi cho những chiến sĩ trong rừng sâu? Đó là tình cảm chân thành quan tâm từ cái ăn cái mặc đến cuộn chỉ may vá:

“Má nuôi tôi vội vã quay vào, soạn trong rổ may lấy một ống kim khâu và mấy cuộn chỉ, gói vào mảnh giấy nhật trình cũ, nhét vào túi áo tôi:

– Nhà nghèo chẳng có gì… Con vào gặp các ảnh, nói là của má gởi biếu… Đi cẩn thận nghe con.”

Hay như cách mà hai con người làm quen với nhau:

“Chẳng mấy chốc mà họ đã uống cạn hai lít rượu, thứ ngon nhất mà các ông chủ quán bảo chỉ để dành riêng cho khách quen sành sõi. Rượu vào thì lời ra. Họ nói đủ thứ chuyện về sông nước, và trong câu chuyện đã bắt đầu xưng hô anh anh chú chú cởi mở, thân mật. Dường như ba ông khách rượu ấy và tía nuôi tôi là những người bạn cũ, xa nhau lâu ngày giờ mới tình cờ gặp lại vậy.”

Đối với kẻ thù, người dân Nam Bộ không chấp nhận việc luồn cúi, làm tay sai cho bọn ngoại xâm và bọn phản quốc. 

Nguồn: NXB Kim Đồng

Ta nhớ đến lão Ba Ngù nát rượu, nhưng khi đứng trước anh Sáu tuyên truyền, trước ông Huỳnh Tấn thì lão lại hoá thành một con người nghiêm túc cho bầu không khí thiêng liêng: giũ giũ cái áo bà ba đen, cài cả cúc cổ cẩn thận, đứng nhìn dòng chữ đỏ chói mà hai tay vuốt đi vuốt lại nếp áo nhăn nheo,… 

Lão Ba Ngù, hay cả những người con Nam Bộ, bên trong họ đau đáu cho đất nước, họ bình dị và an nhiên theo cuộc sống nhưng họ cũng sẵn sàng bùng nổ sức mạnh của mình để bảo vệ cho đất nước. Cái giọng thân thương của người dân Nam Bộ lại hoà cùng tiếng lòng yêu quê hương không khỏi làm ta đau lòng:

“Tôi móc cái giấy xanh xanh ra cầm tay, định hễ gặp người nào đằng mình thì lập tức trình ra. Lôi hết xóm này qua xóm khác mà chẳng gặp ma nào. Tôi cầm cái giấy trên tay như cầm cục lửa. Những muốn xé nát, vứt đi rủi bị thanh niên tự vệ bắt trước khi mình đưa ra cho họ, thì chết oan hơn một ngàn bà Thị Kính!”

Nhân dân Nam Bộ dẫu nhỏ bé giữa thiên nhiên bao la, nhưng trong tim họ vẫn giữ lấy ngọn lửa hừng hực của tình yêu quê hương, đất nước.

Không chỉ nằm lại với lão Ba Ngù, mà chú Võ Tòng anh dũng dùng mũi tên đánh lại súng đạn của thực dân dẫn đến cái chết oan uổng, hay ông Hai giơ lên mũi tên thù và lòng yêu quý muốn giúp sức cho chiến sĩ, và cậu bé An, dẫu nhỏ xíu nhưng thông minh, nhanh chí để rồi được tham gia vào hàng ngũ quân ta trong sự tự hào của hai vợ chồng ông Hai.

Anh Thái