Sang Pháp và định cư tại đó từ năm 1937, họa sĩ Mai Trung Thứ luôn canh cánh trong lòng nỗi thương nhớ quê hương. Suốt 38 năm ở nơi xứ người, tình cảm hướng về tổ quốc trở thành cội nguồn cảm hứng cho các sáng tác nghệ thuật của ông. Ông lựa chọn những tấm lụa mềm lại làm chất liệu sáng tác chính. Ông chọn những cô gái Việt Nam yểu điệu thanh tân làm đề tài chủ đạo.
Trong kho tàng tác phẩm của ông, có hai bức tranh phụ nữ rất thú vị, ở chỗ ông “phóng tác” chúng từ những tác phẩm nổi tiếng của hội họa phương Tây. Tác phẩm thứ nhất là nàng “Mona Lisa” vẽ theo kiệt tác của danh họa Leonardo da Vinci. Tác phẩm thứ hai, mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài viết này, là bức tranh “Nu” (tức “Nude” – khỏa thân), phỏng theo bức “La Grande Odalisque” của Jean-Auguste-Dominique Ingres.

Nói về sự ra đời của hai bức họa này, nhà phê bình Thụy Khuê cho biết: “Khoảng 1952-54, ông [Mai Trung Thứ] gặp Jean-François Apesteguy, người trở thành giám đốc nghệ thuật và nhà bán tranh chính thức của ông tới khi ông qua đời. Năm 1955, theo lời yêu cầu của Apesteguy, Mai Thứ phóng tác bức La Joconde của Léonard de Vinci và bức Kỹ Nữ của Ingres theo phong cách Á Đông.”
Mặc dù vậy, ở góc trên bên phải của bức tranh có mấy chữ Hán “thất thập niên”, nên khả năng cao là bức tranh này hoàn thành năm 1970.
Trong phiên bán đấu giá của sàn Christie’s, tổ chức ngày 24/11/2019 tại Hồng Công, bức tranh “Nu” đã đươc bán với giá 3.965.000 HKD (khoảng 11 tỉ VND). Mức giá này cao hơn kỳ vọng của Christie’s rất nhiều vì tổ chức này dự đoán tranh sẽ bán được với giá chỉ 500.000 – 700.000 HKD.
Điều gì khiến bức tranh phóng tác này hấp dẫn ngoài dự kiến như vậy?
Từ kiệt tác “sai tỉ lệ” của Ingres
Trước hết, hãy nói về danh họa người Pháp Jean-Auguste-Dominique Ingres (1780-1867). Ông nổi danh trong lịch sử hội họa vì là thủ lĩnh của phái hội họa hàn lâm kinh viện, kình địch với trường phái Lãng mạn (Romanticism), trỗi dậy mạnh mẽ trên khắp châu Âu hồi đầu thế kỷ 19.
Theo trường phái Tân cổ điển (Neoclassicism), trung thành với nền tảng hội họa chính thống, Ingres kiên trì theo đuổi phong cách vẽ cực kỳ tỉ mỉ, chăm chút, khác hẳn với đường nét vội vã, có phần xuề xòa của các họa sĩ Lãng mạn tân thời.

Nhưng thật trớ trêu, nhiều bức họa của ông lại đi ngược với lý tưởng của hội họa hàn lâm, thậm chí gần với phong cách Lãng mạn mà ông luôn chống đối. Bức tranh “La Grande Odalisque” (Đại cung nữ) là một trong những tác phẩm như vậy.
“La Grande Odalisque” ra đời năm 1814, theo đặt hàng của Caroline Bonaparte, em gái hoàng đế Pháp Napoleon I. Odalisque là từ chỉ cung nữ hay phi tần, của các vua (sultan) đế quốc Ottoman, vì thế cách gọi “kỹ nữ” không thực sự chính xác. Trong hội họa, Odalisque là một đề tài gắn liền với nhục dục, thường mô tả những người phụ nữ trong tư thế ngả người đầy khêu gợi.
Ngay từ khi ra đời bức tranh đã gây xôn xao giới nghệ thuật và đối mặt với sự chỉ trích dữ dội. Lý do là Ingres đã vẽ sai tỉ lệ cơ thể người. Đầu nhỏ, chân tay bị kéo dài, tay trái ngắn hơn tay phải. Chưa hết, nghiên cứu chỉ ra rằng tư thế của cô gái trong tranh, cách uốn cột sống và quay khung chậu, là không thể tồn tại trong thực tế.
Và hơn hết, theo như tỉ lệ trong tranh thì cô gái phải thừa đến… 5 đốt cột sống. Chà, thật khó chấp nhận đối với một họa sĩ lão luyện.
Chẳng lẽ người thủ lĩnh lừng danh của hội họa chính thống, vốn luôn nghiên cứu rất kỹ tỉ lệ cơ thể người và cầu toàn đến mức khắt khe, lại vô tình mắc những lỗi sơ đẳng đó? Khả năng rất cao là ông cố tình. Biết đâu chính những đường cong sai sót ấy giúp tăng vẻ đẹp nhục cảm và phồn thực của nhân vật.
Đến phiên bản “Việt hoá” của Mai Trung Thứ
Có lẽ trong những lần dạo bước trong bảo tàng Louvre ở Paris, họa sĩ Mai Trung Thứ đã dừng chân trước bức tranh “La Grande Odalisque” của danh họa sống trước ông một thế kỷ, trầm ngâm suy nghĩ về việc làm thế nào để “Việt hóa” những yếu tố ngoại lai trong tranh. Quả thực, ông đã làm điều đó khá thành công.

Quan sát hai bức tranh, có thể thấy dáng điệu nhân vật vẫn thế, bố cụ tranh, sắp xếp đồ vật nhìn chung không thay đổi, nhưng Mai Trung Thứ đã thay toàn bộ các vật dụng châu Âu và Ottoman bằng những đồng vật Á Đông.
Chiếc rèm cửa trang trí họa tiết hoa sen, cái đỉnh trầm đặt trên bàn ở góc phải, gối trái dựa của cung đình Huế, chiếc quạt cầm tay cho đến cả chiếc khăn vấn đầu của cô gái. Tất cả đang mang đến một không khí thân quen, hết sức Việt Nam. Nhưng dĩ nhiên những điều chỉnh đó cũng chỉ là bổ trợ cho sự thay đổi quan trọng nhất: cô gái.
Bằng lối vẽ nhân vật đặc trưng của mình, Mai Trung Thứ đã thế vào tranh một thiếu nữ Việt Nam, mang những nét duyên dáng thuần chất Á Đông. Nếu như nàng cung nữ của Ingres có ánh nhìn đầy khêu gợi, thì cô gái của Mai Trung Thứ lại hút hồn người xem bằng vẻ đẹp kín đáo hơn, quý phái hơn (họa sĩ còn vẽ thêm tấm vải che phần hông của thiếu nữ).
Mai Trung Thứ, giống với Ingres, không thực sự quan tâm đến tỉ lệ cơ thể, thể hiện ở việc chân trái bị kéo ra. Thêm nữa, cả hai hoạ sĩ đều ưu tiên đường nét hơn là màu sắc.
Điểm khác biệt chính nằm ở chất liệu và kỹ thuật, Ingres sử dụng sơn dầu, giúp kiểm soát tốt hơn, dễ sửa chữa hơn, nhờ đó tác động mạnh hơn tới kết quả. Trong khi đó, Mai Trung Thứ vẽ mực và màu bột trên lụa, tuy không thể kiểm soát tốt như sơn dầu nhưng lại gây dựng được vẻ dịu dàng và thanh thoát.
Qua bức tranh “Nu”, Mai Trung Thứ đã thể hiện cách nhìn nhận của ông về vấn đề tiếp biến văn hoá (acculturation) – một chủ đề văn hoá thịnh hành vào những năm đầu thế kỷ 20. Những điều chỉnh và thay đổi trong kỹ thuật hội hoạ đã cho phép hoạ sĩ bộc lộ được cách diễn giải của riêng ông về Á Đông.
“Phóng tác tranh của hoạ sĩ khác là một việc không nên làm”, nhà phê bình Thụy Khê đã nhận xét như vậy khi nhắc đến tác phẩm này. Nhưng dù thế nào thì bức tranh “Nu” vẫn có vẻ đẹp và ý nghĩa riêng, chính vì thế nó luôn chiếm một vị trí quan trọng trong di sản nghệ thuật của Mai Trung Thứ.
Đan Thanh